Quỷ Bí Chi Chủ
Tập 9 : Audrey Và Susie (c41-c45)
❮ sautiếp ❯Chương 41: Audrey Và Susie
Klein đổ cà phê, trở lại kho vũ khí rồi bê một chồng tài liệu lịch sử mà lão Neil đã soạn ra với các bản nháp ban nãy, men theo bức tường gắn đèn khí gas rẽ về phía cầu thang lên công ty Bảo an Gai Đen.
Cộp, cộp, cộp, tiếng bước chân vang khắp lòng đất kín và trống trải.
Klein đi lên cầu thang xoắn ốc, đẩy cửa phòng ra, phân biệt qua rồi đi thẳng tới buồng làm việc thứ hai phía đối diện.
Qua hai ngày làm quen, hắn đã biết rõ bố cục của công ty Bảo an Gai Đen: Vào cửa là đại sảnh tiếp đón rộng rãi, có một bộ sô pha và một bàn, đi qua vách ngăn là khu vực bên trong.
Ba gian phòng ở bên trái hành lang theo thứ tự là phòng kế toán của phu nhân Olean, phòng nghỉ có mấy chiếc giường trông giống ghế sô pha, và nơi có cầu thang đi thông xuống lòng đất.
Ba gian phòng bên phải thì là văn phòng của đội trưởng Dunn Smith, văn phòng cho nhân viên văn chức với máy đánh chữ, phòng giải trí của thành viên chính thức tiểu đội Kẻ Gác Đêm.
Lúc trước Klein có thấy Leonard Mitchell chơi bài với hai đội viên khác trong phòng giải trí, hắn đoán đó là trò Đấu Địa Chủ.
Đương nhiên Russel đại đế đã đặt cho nó cái tên khác, gọi là “Đấu Tà Ác”, chỉ là cách chơi không khác những gì Klein biết.
Bratt trực đêm xong sẽ được phúc lợi ngủ bù một ngày, Roxanne thì ở chỗ quầy tiếp đón, Cesare Francis phụ trách mua và nhận vật tư kiêm lái xe ngựa vẫn ra ngoài như trước.
Khi Klein đẩy phòng làm việc của nhân viên văn chức ra thì ba chiếc bàn trong này trống không, máy đánh chữ được đặt riêng một chỗ.
“Máy đánh chữ mẫu số 1346 của công ty Axon…”
Klein từng thấy thứ tương tự như vậy ở văn phòng của thầy giáo và nhà Welch, hắn thì thầm một tiếng, chỉ mang máng cảm thấy hệ thống điều khiển phức tạp kia ngập tràn vẻ đẹp của máy móc.
Hắn đi tới bàn làm việc có máy đánh chữ, ngồi xuống, thử đánh chữ ở trong đầu trước.
Ban đầu hắn ghép vần theo bản năng, đợi tới khi quen rồi mới “tiêu hoá” được mảnh vỡ ký ức của nguyên chủ, không còn mắc lỗi.
Cạch, cạch, cạch!
Tiếng gõ chữ theo tiết tấu như ca khúc tới từ kim loại, nhạc khúc cứng rắn tới từ công nghiệp.
Trong giai điệu ấy, Klein nhanh chóng thảo sẵn đơn xin kinh phí.
Nhưng hắn không vội vã đi tìm Dunn Smith ngay, mà thu tâm tình lại, nghiêm túc đọc tài liệu lịch sử mà Neil cung cấp, vừa là học cũng vừa là ôn tập.
Tới gần giữa trưa, hắn vặn cổ, dọn dẹp tài liệu, lấy bản nháp “Khoá học Thần bí học” và hồi tưởng những nội dung được học lúc sáng.
Mãi tới lúc này hắn mới cầm “đơn xin” lên rồi đi tới văn phòng bên cạnh, giơ tay gõ cửa phòng.
Dunn đang chờ bữa trưa, sau khi đọc đơn của Klein xong thì khoé miệng khẽ nhếch lên:
“Neil dạy cậu à?”
“Vâng.” Klein không chút do dự bán đứng lão Neil.
Dunn cầm chiếc bút máy màu đỏ sậm, soàn soạt ký tên, nói:
“Đúng lúc chuẩn bị xin kinh phí tháng bảy, tháng tám và tháng chín với giáo hội và cảnh sát quận, tôi sẽ thêm cái này của cậu vào.
Chờ được phê duyệt thì tìm phu nhân Olean mà lấy, về con lắc cảm xạ thì buổi chiều có thể nhận rồi.”
“Vâng.” Klein đáp lại gọn lỏn mà hữu lực.
Ngữ khí với ánh mắt của hắn đều đầy vui mừng.
Trước khi đi, hắn còn thuận miệng hỏi một câu: “Kinh phí cho tháng bảy, tháng tám với tháng chín không phải là nên xin xong từ tháng sáu rồi sao?”
Nào có chuyện đến tháng bảy mới lại xin kinh phí của tháng bảy chứ?
Dunn im lặng vài giây, nhấc cốc cà phê lên nhấp một ngụm nói:
“Tháng sáu gặp ba vụ giết người liên tục, bận quá, đến mức quên một số việc.”
Không hổ là vị đội trưởng có trí nhớ không tốt… Klein biết mình hỏi vấn đề không nên hỏi, gượng cười hai tiếng rồi nhanh chóng đi ra.
Cứ thế hắn bắt đầu một cuộc sống đơn giản mà tuân theo quy luật.
Sáng sớm minh tưởng nửa giờ, buổi sáng thì học hai tiếng chương trình thần bí học, nửa giờ đọc tài liệu lịch sử.
Sau bữa trưa, về phòng nghỉ ngủ một giấc cho khôi phục tinh lực.
Sau đó đi nhận đạn, qua câu lạc bộ bắn súng luyện tập.
Luyện xong thì đi dạo tới chỗ ở của Welch cách đó không xa cho lắm, đổi con đường khác trở về phố Chữ Thập Sắt, như vậy có thể tiết kiệm chi phí đi xe ngựa công cộng.
Nếu còn thời gian rảnh thì luyện cho quen thuộc các kỹ năng linh thị hoặc con lắc cảm xạ, tiện thể mua ít đồ ăn.
Trong một căn phòng thí nghiệm hoá học tư nhân với đầy đủ dụng cụ, Audrey với vóc dáng cao gầy và mái tóc mềm mại đang nhìn chằm chằm cái ly trong tay.
Chỉ thấy vô số bọt khí toát ra, làm cho không khí yên lặng hẳn đi.
Cuối cùng chất lỏng trong ly lắng đọng lại thành một thứ màu trắng bạc sền sệt.
“Ha ha, quả nhiên là mình có thiên phú về có thần bí mà, một lần đã thành công rồi! Lúc trước còn sợ thất bại nên có tình chuẩn bị hai phần nguyên liệu!” Thiếu nữ mừng rỡ lẩm bẩm.
Cô nàng cất phần nguyên liệu thừa lấy từ kho của nhà mình và phần trao đổi với người khác, sau đó hít một hơi thật sâu, định nhắm mắt lại uống ly ma dược “Khán Giả” này.
Đúng lúc này có tiếng “gâu gâu” vang lên từ bên ngoài phòng thí nghiệm, Audrey nhíu mày.
Cô ta đặt chiếc ly chứa chất lỏng màu trắng bạc sóng sánh vào một góc tối, quay người đi tới cửa.
“Susie, ai tới vậy?” Audrey vặn nắm cửa, hỏi chú chó lông vàng đang ngồi thẳng trước cửa.
Chú chó Susie lắc đuôi lấy lòng, mà hầu gái thân cận Annie thì xuất hiện ở hành lang gần đó.
Audrey đi ra khỏi phòng thí nghiệm, tiện tay đóng cửa lại, nhìn về phía Annie:
“Không phải tôi nói rồi sao? Đừng quấy rầy tôi khi tôi đang làm thí nghiệm hoá học chứ.”
Annie rầu rĩ đáp:
“Nhưng có lời mời của công tước phu nhân, phu nhân Della.”
“Phu nhân công tước Negan?”
Audrey đi tới trước vài bước tới gần Annie, nói.
“Vâng, bà ấy mời quý cô Vicy chuyên sấy lá chè khô cho hoàng cung tới đây, mời bà chủ và cô chủ đi thưởng thức trà chiều.” Annie nói nội dung thiệp mời.
Audrey hơi phồng quai hàm lên gần như không thể nhận ra, nói:
“Nói cho mẹ tôi là tôi đang chóng mặt, có lẽ là nắng gắt quá, bị mất nước, bảo mẹ tôi xin lỗi phu nhân Della giúp tôi.”
Lúc nói, cô ta tỏ ra yếu ớt.
“Cô chủ à, đây không chỉ là trà chiều, mà còn là một salon văn học đó.” Annie bổ sung.
“Nhưng nó không thể chữa được chóng mặt, tôi cần nghỉ ngơi.” Audrey kiên định từ chối.
Cùng lúc đó, cô nàng thì thầm trong lòng: Nếu còn nói nữa thì tôi sẽ ngất xỉu cho các người xem, thầy lễ nghi còn bảo động tác ngất xỉu của tôi là siêu hoàn mỹ… Ơ, hình như mình nghe thấy tiếng gì đó?
“Vâng.” Annie thở hắt ra: “Có cần tôi đỡ cô về phòng không?”
“Không cần, tôi dọn dẹp phòng thí nghiệm trước đã.” Audrey hận không thể lập tức quay về sử dụng ma dược.
Nhưng cô ta vẫn nén lại, dõi mắt nhìn Annie đi xa, sau đó mới quay về chỗ cửa phòng thí nghiệm.
Đột nhiên cô ta phát hiện chú chó lông vàng Susie vốn nên ở ngoài đã biến mất, mà cửa phòng thí nghiệm thì đang mở sẵn.
“Mình quên mất là Susie biết mở cửa… Tiếng gì vậy? Thôi xong!” Audrey nghe được tiếng động vang lên từ bên trong, bỗng liên tưởng tới điều gì đó, vội chạy vào trong phòng.
Nơi tầm mắt cô nàng thấy được là chiếc ly vỡ vụn dưới đất, là chú chó Susie đang liếm sạch giọt chất lỏng màu trắng bạc cuối cùng.
Audrey ngơ ngác đứng ở cửa hệt như một bức tượng.
Chú chó lông vàng Susie ngồi thẳng dậy, dùng ánh mắt vô tội nhìn chủ nhân, vẫy vẫy đuôi.
Ở vùng hải ngoại của cảng Pritz, một chiếc thuyền buồm cổ đại neo tại cảng trên một hòn đảo lúc nào cũng bị gió lốc bao phủ.
Người đàn ông có mái tóc vàng mềm mại mặc áo choàng thêu hình tia chớp nhìn Arges Wilson, cảm thấy rất không hiểu:
“Arges, anh hoàn toàn có thể về vương quốc, trở thành đội trưởng của tiểu đội Kẻ Trừng Phạt, hoặc là một vị giám mục vẻ vang, tại sao lại quyết định rời bến trở thành thuyền trưởng của ‘Kẻ Báo Thù U Lam’?”
Khuôn mặt thô kệch và khắc sâu của Arges không hề có biểu cảm gì, anh ta nghiêm trang đáp lại:
“Biển rộng thuộc về Bão Táp, là quốc gia của Chúa Tể, tôi nguyện ý tuân theo ý chí của chúa tể, tuần tra quốc gia này thay Thần.”
“Hay!” Người đàn ông tóc vàng nắm tay đánh lên ngực: “Bão Táp đồng hành với anh.”
“Bão Táp đồng hành với anh.” Arges cũng đáp lại bằng động tác tương tự.
Anh ta đứng trên boong thuyền không có thuyền viên nào, nhìn bạn rời khỏi con thuyền u linh, càng lúc càng xa.
“Sanz, cậu không rõ vì cậu biết không đủ nhiều…” Arges lặng lẽ nói một câu.
Cùng lúc đó Audrey đã kinh hồn bạt vía hoàn thành việc pha chế lần thứ hai.
Nhìn ma dược màu trắng bạc không khác gì lúc nãy, cô nàng cảm động suýt khóc.
Ực, cô nhanh chóng há miệng uống hết ma dược “Khán Giả” này.
Thứ Sáu, một trận mưa rào tập kích Tingen.
Hạt mưa rào rào gõ vang tất cả các cửa sổ.
Bên trong công ty Bảo an Gai Đen, Klein, Roxanne và Bratt ngồi trên ghế sô pha ở sảnh tiếp đón, hưởng thụ bữa trưa.
Bởi vì nơi này chỉ có bếp đun nước nên không thể hâm nóng đồ ăn thừa, mà Klein thì không thể ngày nào cũng ăn bánh mì đen, hoặc đi xe ngựa công cộng về nhà – như vậy tới buổi chiều hắn đi từ phố Chữ Thập Sắt tới nơi ở của Welch lại còn phải suy xét việc ngồi xe về nhà, rất lãng phí tiền, cho nên đành ăn cái gọi là “bữa cơm văn phòng” với Roxanne và đồng nghiệp.
Cứ đúng mười giờ rưỡi mỗi ngày là nhà hàng Old Neville gần đó sẽ phái một phục vụ tới hỏi xem nơi này có gọi cơm trưa không.
Sau khi xác định bao nhiêu suất ăn, bọn họ sẽ đưa tới lúc mười hai giờ rưỡi, dùng một thứ dụng cụ đựng đồ ăn giống như cặp lồng.
Đến ba giờ chiều thì hỏi là có đặt cơm tối không, cũng lấy dụng cụ đựng đồ ăn về.
“Suất ăn” như vậy có thịt, có rau, có bánh mì.
Tuy không nhiều lắm, nhưng cũng tạm đủ cho một người ăn no.
Giá cả của một suất thường từ 7 đến 10 penny, cấp bậc khác nhau.
Klein mặt dày, lần nào cũng chọn suất ăn 7 penny, thường có nửa pound bánh yến mạch, mấy miếng thịt thuộc các loại thịt khác nhau, một muôi canh rau dưa với một ít bơ hoặc mỡ bò.
“Hôm nay lại chỉ có một Kẻ Gác Đêm ở đây…” Roxanne múc một thìa canh đưa vào trong miệng.
“Nghe nói là khu Kim Ngô Đồng xảy ra một vụ án, có liên quan tới giáo phái nên sở cảnh sát mời hai Kẻ Gác Đêm tới đó…” Bratt để chiếc bánh mì xuống, nói.
Klein thì nhúng chiếc bánh yến mạch cuối cùng vào nước thịt, rồi nhét vào trong miệng, không nói gì.
Cổ tay trái trong tay áo của hắn có quấn một sợi xích làm từ bạc treo một khối thạch anh màu vàng.
Đúng lúc này, tiếng gõ cửa cộc cộc vang lên từ cửa chính nửa khép.
“… Mời vào.” Roxanne ngẩn ra, sau đó cất thìa, lấy khăn lau miệng rồi đứng dậy nói.
Cửa được mở ra, một người đàn ông đội mũ phớt, mặc bộ vest màu đen với phần bả vai ướt sũng nước bước vào.
Mái tóc ông ta đã chuyển màu hoa râm, ông ta gập ô lại, nhìn đám người Klein rồi hỏi:
“Nơi này chính là tiểu đội lính đánh thuê trước đây à?”
“Có thể nói là như vậy.” Roxanne trả lời thuần thục.
Người đàn ông cao gầy này ho khan một tiếng rồi nói:
“Tôi có một nhiệm vụ muốn uỷ thác.”
Chương 42: Quản Gia Clea
Có nhiệm vụ muốn uỷ thác… Sợ là ông tìm nhầm chỗ rồi… Công ty Bảo an này chỉ để đó cho có thôi…
Nghe người này nói, Klein nén cả một bụng chế giễu, chỉ hận nơi này không có diễn đàn với box chat nhỉ.
Chẳng qua hắn nhanh chóng nhớ tới việc mình từng hỏi qua về chuyện như này, đội trưởng nói là nếu rảnh thì vì sao không nhận? Tiền kiếm được có thể cho làm kho bạc của đội và phúc lợi cho người tham dự.
Roxanne chuyển tròng mắt, suy nghĩ đôi chút rồi nói:
“Các nhân viên bảo vệ của chúng tôi đều đi làm nhiệm vụ rồi, nhanh nhất cũng phải một giờ nữa mới về.
Nếu chuyện của ông không vội thì có thể cân nhắc xem sao.”
Trong sáu vị thành viên chính thức của Kẻ Gác Đêm, đội trưởng Dunn Smith đã được giám mục mời đi giáo đường không rõ là để thương lượng chuyện gì, Leonard Mitchell đang canh gác “cửa Chianese” thay anh ta.
“Người Nhặt Xác” Frye và “Kẻ Không Ngủ” Loya Raideen đã tới khu Kim Ngô Đồng phối hợp sở cảnh sát điều tra một vụ mất trộm có yếu tố giáo phái.
Một vị “Kẻ Không Ngủ” Cornley White khác đang nghỉ theo lượt, một vị “Thi Sĩ Nửa Đêm” khác là Syja Tron thì đi ngoại ô khu phía bắc tiến hành tuần tra hàng ngày nghĩa địa Raphael.
Còn hai người phi phàm còn lại, lão Neil do tuổi cao, thân thể suy yếu nên đã lâu không đi làm nhiệm vụ, còn Klein thuộc loại người mới, là gà mờ về mọi mặt.
“Đều không ở à…” Người đàn ông tóc hoa râm, tay cầm ô nghe vậy thì mặt tối sầm lại, gỡ mũ xuống cúi chào: “Quấy rầy rồi, cáo từ.”
Ông ta quay người đi ra ngoài cửa, trong tiếng mưa rơi rào rào và tiếng gió thét gào mà rời khỏi số 36 phố Zoutelande.
“Đúng là chẳng đúng lúc gì cả.” Roxanne dõi mắt nhìn người đàn ông kia bước đi, lòng tiếc nuối.
Tuy tiền thù lao không chia cho cô nàng, nhưng chắc chắn sẽ được hưởng ké một bữa ngon.
“Đành chịu thôi, bắt buộc phải có người canh gác cửa Chianese.” Klein thoả mãn đặt dao nĩa và thìa xuống, cho dù có không khoái món canh củ cải và rau dưa nhưng vẫn uống hết: “Chẳng lẽ cô định để Bratt đi làm nhiệm vụ? Hoặc là, chính cô?”
Roxanne chuyển mắt, nói đùa:
“Bratt không được, nhưng anh thì được mà, thưa ngài “Thầy Bói” của chúng ta…”
Cô ta còn chưa nói xong thì bỗng giật mình im bặt lại, bởi vì lúc này cửa còn chưa đóng, nếu bị người đi ngang qua hoặc tới đây nghe được chuyện người phi phàm thì nghĩa là đã làm lộ bí mật rồi.
“May là đội trưởng không ở…” Roxanne nhìn về phía cửa, lè lưỡi: “Không thì lại phải đi hối lỗi rồi!”
Bratt và Klein đều cười ha ha, liếc nhau một cái rồi cùng dọn dẹp.
Sau khi làm xong, mưa vẫn rào rào như trút nước, Klein quyết định ở lại công ty Bảo an Gai Đen vì hắn không mang ô.
Hắn cầm một tờ báo, ngồi lên chiếc sô pha mềm mại và co dãn, nhàn nhã tiến hành “nghỉ trưa”.
“Tuyến tàu bay từ Backlund tới vịnh Dipsy đã được đưa vào sử dụng…”
“Tác phẩm Đại thám tử Manson đã được chỉnh lý thành sách, sắp xuất bản…”
“Quảng cáo tiệm vũ khí Lauglas? Một khẩu súng ngắn ổ xoay với 6 phát kiểu giới hạn, 3 bảng 10 Saule.
Một khẩu súng săn hai nòng 2 bảng…”
Klein nhìn liếc qua báo Người thành thật thành phố Tingen, chợt phát hiện một tin tức: “Tội phạm sát hại ông Welch và bà Naya đã sa lưới toàn bộ, tin rằng bầu không khí khủng hoảng lan tràn khắp khu phía bắc, khu phía đông và khu Kim Ngô Đồng sẽ giảm đi nhanh chóng… Cha của ông Welch, ngài McGwen ngành ngân hàng đã đưa thi thể con trai mình trở về thành phố Conston, tiến hành một tang lễ long trọng…”
Đọc đi đọc lại mấy lần, Klein bỗng thở dài, xem ra cha của Welch đã tin lời giải thích tới từ cảnh sát, không thuê thám tử nào tới điều tra nữa… Ông ấy mất đi người con trai của mình, chắc chắn không khổ sở như bố mẹ mình khi mất con… Cảm xúc xuống thấp, Klein ngồi lặng lẽ ở kia, không hề động đậy gì.
Về việc tại sao tang lễ của Welch và Naya lại không mời mình, hắn không hề thấy kỳ quái, cũng không cảm thấy buồn bã.
Chờ khi mọi việc đã ổn thỏa ta tìm cơ hội tới mộ bọn họ dâng một bó hoa là được… Klein đang định vào phòng nghỉ ngơi ngủ một giấc thì cửa sảnh tiếp đãi vang lên tiếng gõ.
“Mời vào.” Roxanne đang gật gà gật gù tức thì tỉnh táo.
Cánh cửa khép hờ được đẩy ra.
Người đàn ông mặc bộ vest, tóc hoa râm lại tới.
“Tôi có thể chờ ở đây được không? Lính đánh thuê các vị, à không, nhân viên bảo an của các vị hẳn là sắp về rồi nhỉ?” Ông ta cố giấu vẻ lo lắng, hỏi rất thành khẩn.
“Được chứ, mời ông ngồi chờ nơi đó.” Roxanne chỉ vào chiếc sô pha bên cạnh.
Klein cảm thấy tò mò:
“Ông nghe nói về công ty bảo an chúng tôi từ đâu vậy? Ai giới thiệu ông tới đây?”
Thế cho nên mới đi lại hẳn hai lần trong lúc mưa to thế này, hơn nữa còn sẵn lòng chờ? Ừm, hẳn là đội viên của Kẻ Gác Đêm có thể thoải mái giải quyết được nhiệm vụ mà người khác thấy khó, nên tích lũy đủ danh tiếng…
Người đàn ông cao gầy dựng ô ngoài cửa, vừa đi về phía sô pha vừa gượng cười, trả lời:
“Tôi tới gặp tất cả lính đánh thuê, à không, công ty bảo an và thám tử tư, nhưng bọn họ không còn người để nhận thêm nhiệm vụ, chỉ còn chỗ các anh là còn hy vọng thôi… Thẳng thắn mà nói, nếu không gặp được người đưa cơm thì có lẽ tôi cũng không biết nơi này còn một công ty bảo an nữa.”
… Hoàn toàn khác với những gì mình tưởng… Klein ngơ ngác.
Roxanne thì nói chen vào:
“Bọn họ bận việc lắm à? Nhiều nhiệm vụ thế cơ à?”
Người đàn ông cao gầy tóc hoa râm ngồi xuống, thở dài đáp:
“Các vị là tiểu đội lính đánh thuê, à không, công ty bảo an, hẳn là nghe nói tới vụ đột nhập giết người ở quảng trường Holls rồi chứ?”
Quảng trường Holls… Đột nhập cướp của giết người… Ok, rất không may rằng tôi chính là một trong những đương sự đây… Klein nặng nề gật đầu:
“Đúng vậy.”
“Bởi sự hung ác và tàn nhẫn đó của lũ tội phạm mà các nhà giàu xung quanh quảng trường, thậm chí cả toàn bộ Tingen đều cảm thấy sợ hãi.
Ngoài việc gia tăng số bảo vệ lên thì bọn họ còn mời rất nhiều nhân viên bảo an và thám tử tư nên mới xảy ra việc không đủ người như thế này.” Người đàn ông cao gầy trả lời rất mạch lạc.
Đây là một phản ứng dây chuyền rất chuẩn mực… Klein và Roxanne liếc nhau, đều thấy được vẻ chế giễu trên mặt đối phương.
Ngành bảo an tiến vào “thời đại hoàng kim”, thế mà bên Gai Đen này lại chẳng thấy động tĩnh gì, thế mới biết công ty này kinh doanh bê bết tới mức nào.
Đương nhiên theo ý khác mà nói cũng chứng tỏ tiểu đội Kẻ Gác Đêm đã che giấu bản thân thành công.
Chờ thêm hai mươi phút nữa.
Thấy mưa to dần tạnh, Klein dọn dẹp chuẩn bị đi câu lạc bộ bắn súng luyện tập.
Đúng lúc này, Leonard Mitchell tóc đen mắt xanh đi ra vách ngăn, nghi hoặc nhìn về phía ghế sô pha:
“Ông đây là?”
“Người ủy thác.
Đội trưởng về rồi à?” Roxanne hỏi đầy vui sướng.
“Về rồi?” Người đàn ông cao gầy sửng sốt, mình ngồi ở đây nhìn chằm chằm cửa từ nãy đến giờ mà đâu thấy ai về?
Roxanne đờ mặt ra, vội vàng cười ha ha, nói:
“Là công ty bảo an, chúng tôi không chỉ có cửa trước.”
“Đã hiểu.” Người đàn ông cao gầy giật mình, gật đầu.
Còn việc gọi là “đội trưởng” thì ông ta không hề cảm thấy kỳ quái, bởi tiền thân của công ty bảo an chính là tiểu đội lính đánh thuê hoặc nghiệp đoàn lính đánh thuê loại nhỏ, có “đội trưởng” là chuyện khá bình thường.
Leonard với chiếc áo sơ mi trắng không được sơ vin, áo gile màu đen cũng khoác rất tùy ý, nhìn người đàn ông cao gầy, bỗng nhiên búng tay một cái, nói:
“Tôi là nhân viên bảo an của công ty Gai Đen, không biết ông tên là gì? Muốn ủy thác chuyện gì?”
Có lẽ đã nghe nói về sự không theo khuôn phép của đám “lính đánh thuê” nên người đàn ông cao gầy không hề tức giận mà trái lại còn thở phào nhẹ nhõm.
Ông ta nhìn Leonard ngồi xuống, tổ chức ngôn ngữ rồi nói:
“Tôi tên là Clea, là quản gia của thương nhân thuốc lá Vek’lor.
Con trai độc nhất của ông ấy, cậu Elliot, đã bị bắt cóc sáng sớm hôm nay.
Chúng tôi đã báo cảnh sát, cũng nhận được sự chú trọng đặc biệt, nhưng ngài Vek’lor vẫn chưa yên tâm.
Ông ấy hy vọng thông qua con đường của lính đánh thuê, à nhân viên bảo an các anh và sự hiểu biết của các anh với Tingen để tiến hành điều tra theo hướng khác, đảm bảo cậu Elliot được giải cứu an toàn.
Nếu các anh có thể tìm được nơi ẩn núp của bọn cướp, ngài Vek’lor sẵn sàng trả thù lao 100 bảng.
Nếu các anh có biện pháp mà còn thuận lợi giải cứu được cậu Elliot, ông chủ sẵn lòng trả gấp đôi thù lao, thành 200 bảng.”
Leonard Mitchell cười thản nhiên, nói:
“Dường như ngài Vek’lor đây chỉ hy vọng chúng tôi tìm được chỗ ẩn núp của bọn cướp? Nếu không thì sẽ không chỉ trả thù lao mới 100 bảng cho con trai của ông ta nhỉ.
Một vị thương nhân thuốc lá có mối quan hệ chặt chẽ với khu gieo trồng nam bộ sẽ không chỉ có thể móc túi được 200 bảng ra nhỉ.”
“Không, ngài Vek’lor chỉ là một doanh nhân bình thường, không phải nhà giàu có.
Hơn nữa ông ấy tin rằng cảnh sát chuyên nghiệp hơn trong chuyện giải cứu con tin.” Lão quản gia Clea trả lời thản nhiên.
“Ok, không thành vấn đề.” Leonard lại búng ngón tay thành tiếng.
Anh ta nhìn Roxanne, nói: “Cô gái xinh đẹp, phiền em đi chuẩn bị một bản hợp đồng.”
“Đừng có cho rằng mình là thi sĩ, thực tế anh chỉ biết đọc tác phẩm của người khác mà thôi.” Roxanne đã quen việc trào phúng lẫn nhau với Leonard, không hề nhớ là có khách ở đây.
Đương nhiên công ty bảo an Gai Đen không quan trọng việc có nhận được ủy thác hay không.
Có thì rất tốt, không có cũng chẳng sao.
Roxanne rời khỏi quầy tiếp đãi vào phòng thư ký, tiếng máy lạch cạch vang lên.
Klein nhìn mà khóe miệng giật giật, cảm thấy bọn họ chẳng hề chuyên nghiệp chút nào.
Thế mà lại chẳng hề có sẵn mẫu hợp đồng gì cả!
Đây là một chuyện rất đau thương… Mà điều khiến người ta đau buồn hơn đó là ta lại làm việc cho một công ty không chuyên nghiệp như vậy… Hắn mới nghĩ như vậy thì Roxanne đã thảo xong một bản hợp đồng ngắn gọn với vài điều khoản cơ bản, sau đó đưa cho quản gia Clea và Leonard Mitchell ký vào.
Chờ khi Clea đóng dấu xong, cô ta cầm hợp đồng vào phòng kế toán tìm phu nhân Olean đóng dấu của “Công ty Bảo an Gai Đen” – một con dấu gần như chẳng có tác dụng mà bình thường Dunn đều giao cho phu nhân Olean bảo quản, tới Chủ nhật thì giao cho mấy người Roxanne.
“Chờ tin tốt của các anh.” Nhận một bản hợp đồng, quản gia Clea đứng lên, ngả mũi chào nói.
Leonard không trả lời mà im lặng mười giây như đang suy nghĩ chuyện gì đó.
Đột nhiên anh ta quay đầu nhìn Klein, mỉm cười bảo:
“Tôi cần sự trợ giúp của anh.”
“Hở?” Klein ngẩn ra.
“Ý của tôi là nhiệm vụ này sẽ do tôi và anh cùng hoàn thành.” Leonard khẽ nhếch khóe miệng, giải thích: “Tôi có sở trường đánh nhau, bắn súng, leo trèo, cảm ứng và niệm chú với mấy việc phụ trợ khác, nhưng không bao gồm chuyện tìm người.
Chắc anh không hy vọng lão Neil sẽ ra ngoài trong cái khí trời như thế này chứ?”
Khi anh ta nói tới “cảm ứng” thì giọng nghe khá hàm hồ, hoàn toàn không làm cho người ta nghe rõ được.
“Ok.” Klein thì đang muốn thử “kỹ năng” mới, mà cũng khá cảnh giác với Leonard Mitchell.
Phù, hy vọng có thể hoàn thành nhiệm vụ thuận lợi… Không biết năng lực “Thầy Bói” của ta có thể phát huy được bao nhiêu tác dụng… Hắn nghĩ như vậy với đôi chút mong chờ.
Chương 43: Tìm Người
Leonard mỉm cười nhìn Klein, gật đầu nói: “Vậy anh cần bọn họ cung cấp những gì?”
Anh ta đã hợp tác nhiều lần với những người như lão Neil nên thừa biết bói toán cần môi giới, lại còn trong tình huống không có “nhân vật chính”.
Klein ngẫm nghĩ, quay sang nhìn quản gia Clea, nói:
“Tôi cần quần áo Elliot mặc gần đây mà chưa giặt, nếu như có thể lấy được trang sức mà cậu ấy đeo thường xuyên thì càng tốt hơn.”
Hắn cố gắng lựa chọn vật môi giới bình thường nhất là không phải thứ sẽ khiến người bình thường đoán mò.
Nhưng như vậy rồi lão quản gia Clea vẫn tỏ ra ngờ vực:
“Vì sao?”
Hỏi xong ông ta lại bổ sung:
“Tôi có mang ảnh chụp của cậu Elliot tới đây.”
Vì sao? Bởi vì chúng tôi định tìm tung tích của cậu ta qua việc bói toán… Klein tạm thời không biết nên trả lời như nào.
Nếu nói thật, không đề cập đến việc có vi phạm điều khoản giữ bí mật không, quá nửa là lão quản gia Clea sẽ xé hợp đồng, quay đầu bỏ đi và lòng thì mắng mỏ: “Cái lũ lừa đảo này! Nếu làm thế hữu dụng thì tao đi tìm người thông linh nổi tiếng nhất quận Akhova cho rồi!”
Leonard Mitchell bên cạnh khẽ cười một tiếng:
“Thưa ông Clea, đồng bạn, ừm, đồng nghiệp của tôi có nuôi một thú cưng kỳ lạ có khứu giác còn linh hơn cả chó săn, cho nên chúng tôi mới cần quần áo hoặc đồ vật mà cậu Elliot từng mang trên người để hỗ trợ tìm người.
Ông biết đó, manh mối thường chỉ tập trung ở một phạm vi đại khái thôi.”
“Còn tấm hình kia, chúng tôi cũng cần.
Tôi và anh này cần biết cậu Elliot trông như thế nào.”
Lão quản gia Clea chấp nhận lời giải thích này, bèn gật đầu, nói:
“Các anh ngồi đây chờ hay là cùng tôi đi tới nhà của ngài Vek’lor trong thành phố?”
“Đi cùng đi, để tiết kiệm thời gian.” Klein trả lời ngắn gọn.
Hắn vừa muốn thử năng lực người phi phàm của mình, đồng thời cũng muốn đi cứu vớt kẻ khác.
“Vâng, xe ngựa ở dưới kia.” Lão quản gia Clea vừa nói vừa móc một tấm ảnh chụp đen trắng ra khỏi túi áo rồi đưa cho Leonard.
Đây là ảnh chân dung của Elliot Vek’lor, cậu bé chừng mười tuổi, tóc mái khá dài suýt thì che khuất đôi mắt, mặt lấm tấm tàn nhang, trông không có gì đặc sắc.
Leonard liếc nhìn một cái rồi tiện tay đưa cho Klein.
Klein nhìn khá kỹ, sau đó đút ảnh vào trong túi, cầm gậy, đội mũ rồi theo hai người kia rời khỏi công ty Bảo an Gai Đen, đi lên cỗ xe ngựa đang chờ bên dưới.
Bên trong cỗ xe ngựa này khá rộng rãi, trải một lớp thảm dày, và có một chiếc bàn nhỏ bày đồ.
Bởi vì lão quản gia cũng ngồi ở đây nên Klein và Leonard không nói gì, chỉ yên lặng hưởng thụ tiếng mưa nhỏ dần đánh lên xe ngựa và tiếng bánh xe lộc cộc đi trên con đường đầy nước.
“Lái xe ngựa không tệ.” Không biết bao lâu sau, Leonard phá sự im lặng bằng một câu khen ngợi.
“Ừm.” Klein đáp lại có lệ.
Lão quản gia Clea thì nặn ra một nụ cười:
“Sự khen ngợi của anh là vinh hạnh của anh ta! Chúng ta sắp đến rồi…”
Vì lo bọn cướp phát hiện nên xe ngựa không lái tới tận nhà của thương nhân thuốc lá Vek’lor mà dừng bên con đường gần nhất.
Lão quản gia Clea bật ô một mình đi về.
Trong lúc chờ, Leonard nói với Klein:
“Lần trước tôi suy đoán nguyên nhân không phải là có mục đích gì khác, chỉ muốn nói cho anh biết cuốn bút ký kia chắc chắn sẽ lại xuất hiện, có lẽ là sắp rồi.”
“Đây không phải một suy đoán khiến người ta vui vẻ gì cả.” Klein dùng cằm chỉa về phía lái xe ý bảo là trong lúc có kẻ khác thì đừng thảo luận đề tài nhạy cảm như vậy.
Leonard huýt sáo nhìn ra ngoài qua cửa sổ, chỉ thấy giọt mưa đánh lên kính thủy tinh, để lại dấu ấn mông lung làm cho thế giới bên ngoài nhòa cả đi.
Một lúc sau, Clea xách một túi đồ quay lại.
Vì đi quá nhanh mà ống quần ông ta dính đầy bùn đất, trước người ướt một mảng.
“Đây là quần áo cậu Elliot mặc ngày hôm qua, đây là bùa hộ mệnh Bão Táp mà lúc trước cậu ấy đeo.”
Klein nhận lấy, nhìn thoáng qua thì phát hiện đây là một bộ vest thân sĩ bản thu nhỏ, áo sơ mi nhỏ, áo vest loại nhỏ, nơ nhỏ… Còn bùa hộ mệnh Bão Táp kia thì lấy đồng xanh làm đế, điêu khắc biểu tượng gió lớn và sóng biển, nhưng chưa gợi đến linh cảm của Klein.
“Giờ tôi sẽ kể lại tường tận về việc cậu Elliot bị bắt cóc để tiện cho các anh tập trung mục tiêu….” Lão quản gia Clea ngồi xuống, kể lại cơn ác mộng sáng nay mong sao có thể tìm được chi tiết đáng giá.
Klein và Leonard không hứng thú gì với chuyện này, chỉ quan tâm xem bọn cướp có mấy tên, có biểu hiện điều gì bất thường không, có mang vũ khí không.
“Ba tên”, “bình thường”, “có súng”… Sau khi được thông tin mình cần, bọn họ chào tạm biệt lão quản gia Clea, thuê một cỗ xe ngựa hai bánh tiện lợi nhất ở gần đó.
Khác với xe ngựa công cộng, loại xe ngựa cho thuê này có bốn bánh hoặc hai bánh, có thể tính tiền theo từng km hoặc theo thời gian.
Nếu thu theo km thì 1km là 4 penny, ra ngoại ô thì là 8 penny/1 km.
Còn theo thời gian thì một tiếng 2 saule, nếu không đến một tiếng thì tính giá như một tiếng, còn hơn một tiếng đồng hồ thì mỗi mười lăm phút là 6 penny, chưa tới mười lăm phút vẫn tính tiền như mười lăm phút.
Nếu thời tiết xấu hoặc đang trong tình huống khẩn cấp cần đi nhanh hơn là sẽ tăng giá.
Klein nghe thầy Azcot nói rằng lái xe ngựa ở thủ đô Backlund nổi tiếng với việc hét giá lung tung.
Với hắn đây là sự hưởng thụ xa xỉ, chẳng qua hiện giờ hắn không phải lo điều này, bởi vì Leonard đã quẳng hai tờ 1 saule cho lái xe rồi.
“Tính theo thời gian.” Leonard dặn xong bèn đóng cửa xe lại.
“Các anh muốn đi đâu?” Lái xe nhận tiền rồi, vừa sung sướng vừa ngỡ ngàng hỏi.
“Chờ chút.” Leonard quẳng mắt về phía Klein.
Klein khẽ gật đầu, lấy quần áo của Elliot trải qua trên sàn xe ngựa, sau đó quấn chiếc bùa hộ mệnh Bão Táp kia lên đầu cây gậy batoong của mình.
Hắn nắm cây gậy màu đen mạ bạc rồi dựng thẳng nó ở bên trên quần áo của Elliot.
“Quả cầu ánh sáng” ngưng tụ trong đầu, tâm tư Klein nhanh chóng yên tĩnh lại, đôi mắt nâu sậm dần, tiến vào trạng thái minh tưởng.
Hắn cảm thấy “linh” của thân thể trở nên nhẹ dần và lơ lửng, mang máng thấy được “thế giới linh hồn” ở khắp mọi nơi, lòng thì lẩm nhẩm “vị trí của Elliot”.
Sau bảy lần, hắn rời tay khỏi chiếc gậy batoong.
Cây gậy không hề đổ xuống mà vẫn dựng thẳng nơi đó, bất kể là toa xe lắc lư khá nhẹ!
Bốn phía truyền tới tiếng động nhỏ bé và vô hình, Klein như cảm thấy một đôi mắt đang hờ hững nhìn mình.
Trong khoảng thời gian này, thi thoảng hắn có cảm nhận tương tự mỗi khi ở trong trạng thái linh thị khi minh tưởng.
Mang theo cảm giác sởn tóc gáy này, hắn nhìn chăm chú vào gậy chống, lòng lại lẩm nhẩm lần nữa: “Vị trí của Elliot.”
Hắn vừa nhẩm xong, chiếc gậy màu đen làm từ gỗ mạ bạc kia đổ xuống, chỉ tới phía trước.
“Đi thẳng.” Klein cầm gậy, nói, giọng hắn hơi mờ ảo như có thể xuyên thấu tới thế giới không biết.
Đây là một trong những năng lực chiêm bặc mà hắn nắm giữ, có tên là “Bói gậy tìm đồ”, đạo cụ nhất định phải là đầu gỗ, sắt hoặc nửa gỗ nửa sắt.
Bình thường mà nói bắt buộc phải dùng hai cây xem bói chân chính, có hình dáng tương tự với một dây thép thẳng được uốn thành góc vuông, sau đó cầm bên ngắn hơn dùng chuyển động để xác định phương hướng.
Nhưng là “Thầy Bói”, được trải qua luyện tập nên Klein phát hiện mình có thể trực tiếp sử dụng loại tìm đồ vật để tìm người, cũng có thể dùng gậy batoong thay cho gậy bói toán, gậy đổ hướng nào chính là hướng của đồ vật mình muốn tìm.
Còn về cuốn bút ký của gia tộc Antigenous thì do Klein không nhớ được hình dáng của nó, cũng chẳng có ấn tượng gì nên không thể tìm được.
“Đi thẳng.” Klein cất cao giọng dặn dò lái xe: “Lúc nào cần chuyển hướng chúng tôi sẽ nói cho anh.”
Lái xe ngựa hoàn toàn không hiểu tại sao phải làm như vậy, nhưng với số tiền mặt trong túi cộng với việc đối phương trả tiền không chút do dự khiến anh ta không nói gì mà chấp nhận làm theo.
Xe ngựa từ từ chạy qua từng con đường một.
Dọc đường đi, Klein nhiều lần sử dụng “bói gậy tìm vật” để chỉnh sửa hướng đi.
Tới khi xe ngựa dạo một vòng quanh một tòa nhà, hắn mới xác nhận Elliot đang ở bên trong.
Lúc này đã là ba mươi phút sau khi tạm biệt lão quản gia Clea.
Cho lái xe ngựa đi, Klein không dùng quần áo của Elliot nữa chọc gậy batoong có quấn bùa hộ mệnh xuống đất.
Đôi mắt hắn lại trở nên sâu hơn, những giọt mưa không quá nhiều ở xung quanh bỗng nhiên xoay vòng tại chỗ.
Gậy chống ngả ra phía trước, Klein chỉ vào cầu thang, nói: “Chỗ đó.”
“Đôi khi tôi rất hâm mộ lão Neil, hiện giờ tôi cũng rất hâm mộ anh.” Leonard mỉm cười nhìn cảnh này, thở dài nói.
Klein liếc anh ta một cái, bình thản đáp: “Thế này có khó gì đâu, chỉ cần anh muốn là học được ngay… Linh cảm của anh chắc cao lắm nhỉ?”
Leonard gật đầu, khẽ cười đáp: “Đó cũng không phải chuyện tốt đẹp gì.”
Anh ta bước nhanh qua màn mưa sắp tạnh, đi vào cầu thang.
Klein sợ mưa xối hỏng bộ vest nên cũng gần như là chạy theo.
Tòa nhà này có ba tầng, tương tự chung cư ở trên Trái Đất, cứ mỗi tầng lại có hai căn hộ.
Klein lại dùng “bói gậy tìm vật” ở tầng một và tầng hai, mà gậy vẫn đứng im bất động, chỉ thẳng lên bên trên.
Hai người nhẹ nhàng bước lên tầng ba, Klein lại dựng gậy chống màu đen mạ bạc xuống đất.
Ù!
Một cơn gió nhẹ thổi qua cầu thang, đôi mắt của hắn sậm lại, sâu và đen như có thể hút lấy linh hồn người ta.
Ù ù ù!
Dường như có tiếng khóc vô hình vang lên bốn phía.
Klein buông tay ra, cây gậy batoong quấn bùa hộ mệnh Bão Táp dựng thẳng một cách thần kỳ.
Lại lẩm nhẩm “vị trí của Elliot” một lần nữa, hắn thấy gậy batoong đổ xuống không tạo ra tiếng động gì, chỉ vào căn hộ bên phải.
“Hẳn là ở trong đó.” Klein vừa nhặt gậy lên vừa gõ nhẹ lên ấn đường của mình hai cái.
Trong các “màu sắc” khá sậm, hắn nhìn về cửa phòng bên phải mà nhìn thẳng các “khí tràng” bên trong.
“Một, hai, ba, bốn… Ba tên bắt cóc cộng thêm một con tin, số lượng trùng khớp… Một người có khí tràng thấp bé, hẳn là Elliot… Clea có bảo rằng bọn chúng có hai chiếc súng săn và một khẩu súng lục…” Klein khe khẽ nói.
Leonard cười ha ha, bảo: “Để tôi đọc một bài thơ cho bọn chúng nào.
Sao cứ phải làm bọn bắt cóc nhỉ, vui vẻ làm người văn minh không được sao?”
Anh ta đặt gói đồ đựng quần áo của Elliot xuống, đi hai bước về phía trước, vẻ mặt tức thì trở nên tĩnh mịch và đau buồn.
Giọng nói lôi cuốn và trầm thấp chậm rãi vang lên:
“Ôi, uy hiếp đáng sợ, khát khao đỏ rực!
Chí ít một chuyện là thật: cuộc đời trôi qua rất nhanh.
Một chuyện là thật, còn lại là giả,
Hoa nở một lần rồi vĩnh biệt cõi đời…”
Chương 44: Số Mệnh
Tiếng ngâm của Leonard hệt như đang hát một ca khúc ngủ ngon, nhẹ nhàng ngân nga giữa hai căn hộ, vang vọng khắp cây cầu thang làm từ gỗ uốn lượn.
Klein cảm thấy tinh thần mình trở nên hoảng hốt, dường như nhìn thấy ánh trăng yên tĩnh và mặt hồ tĩnh lặng với gợn sóng nho nhỏ.
Mí mắt hắn trở nên nặng nề như có thể đứng mà vẫn ngủ được.
Trong lúc tri giác mơ hồ như vậy, hắn cảm nhận được cái nhìn vô hình, kỳ dị và hờ hững từ sau lưng, hệt như lúc bản thân đang ngao du thế giới tâm linh.
Một loại mùi vị như vô cùng quen thuộc bốc lên khiến Klein tìm lại được mạch suy nghĩ, dựa vào linh cảm mạnh và minh tưởng vô cùng quen thuộc hắn mới thoát khỏi sự ảnh hưởng của “bài thơ đêm khuya” kia.
Nhưng thể xác và tinh thần của hắn vẫn khó sinh ra được cảm xúc khác.
Leonard nhanh chóng ngừng ngâm thơ, nghiêng đầu cười nói: “Tôi đang nghĩ xem có nên xin thêm một chiếc đàn Finebot không, ngâm thơ sao có thể không có nhạc đệm được? Ha ha, giỡn thôi, tôi nghe thấy bọn họ ngủ hết rồi.”
Vị đội viên Kẻ Gác Đêm tóc đen mắt xanh, toát lên khí chất thi sĩ này bước tới trước cửa phòng của bọn bắt cóc và con tin, rồi đột nhiên đung đưa bả vai, vung nắm tay đánh lên khóa cửa.
Răng rắc!
Gỗ xung quanh khóa cửa vỡ vụn, phát ra âm thanh rất nhỏ.
“Muốn làm được thì cần sự khống chế chuẩn xác.” Leonard vừa quay đầu nói giỡn, vừa thò tay vào trong lỗ thủng mở cửa phòng ra.
Klein, đã tỉnh táo lại, không tự tin như anh ta, bèn rút khẩu súng lục dưới nách ra, cũng điều chỉnh bánh xoay để cam đoan bắn là ra đạn.
Cửa phòng mở ra, hắn thấy một người đàn ông ngủ gục trên bàn, súng lục rơi bên chân, và một kẻ khác đang day day mắt, như muốn đứng dậy.
Bộp!
Leonard bước một bước tới gần, đánh ngất tên bắt cóc sắp tỉnh lại.
Klein định vào theo thì đột nhiên cảm ứng được gì đó mà quay ngoắt người lại về phía cầu thang.
Cộp, cộp, cộp, tiếng bước chân vang lên từ dưới lầu, dần trở nên rõ hơn.
Một người đàn ông mặc áo khoác màu nâu và không đội mũ, ôm một túi bánh mì đang vòng qua góc cầu thang lên tầng ba.
Đột nhiên anh ta dừng lại, thấy một họng súng toát lên ánh sáng kim loại đang dí vào mình.
Con ngươi anh ta phản chiếu hình ảnh một chàng trai trẻ tuổi đội mũ phớt tơ lụa nửa cao, mặc bộ vest màu đen với chiếc nơ cùng màu, cùng với cây gậy batoong mà cậu ta để dựa vào lan can và một khẩu súng lục nguy hiểm.
“Dừng tất cả các động tác của anh lại, giơ hai tay lên.
Ba, hai…” Klein nói với ngữ khí trầm và thong thả.
Hắn cầm khẩu súng bằng hai tay hòng coi đối phương thành bia ngắm dùng cho luyện tập.
“Này anh, có phải anh hiểu nhầm điều gì không?” Anh ta nhìn trân trân vào ngón tay đang để trên cò súng của Klein, cố nặn ra nụ cười.
Klein tạm thời không phán đoán được đây là đồng bọn của lũ bắt cóc hay hàng xóm bên cạnh, nhưng ngoài mặt thì hắn không biểu lộ điều gì dị thường, chỉ trầm giọng mà nói: “Đừng thử giãy dụa, chờ người tới giám định xem có phải hiểu nhầm hay không.”
Lúc này Leonard đã xử lý xong bọn bắt cóc trong phòng, đi ra rồi liếc người đàn ông ở khúc quanh của cầu thang, nhàn nhã nói: “Hóa ra bọn bắt cóc còn một đồng bọn nữa chuyên phụ trách tiếp ứng và mua đồ à?”
Nghe thế, đồng tử mắt người đàn ông khoác áo màu nâu co lại, anh ta đột nhiên nhấc chân đá túi bánh rơi bên người lên hòng ngăn trở tầm mắt của Klein.
Klein hoàn toàn không bị ảnh hưởng, tỉnh táo bóp cò như lúc luyện tập.
Bùm!
Vai trái người đàn ông kia văng máu.
Hắn ta thuận thế lăn một vòng định chạy xuống tầng hai, nhưng Leonard đã giơ tay nắm lấy lan can rồi nhảy xuống.
Bịch, Leonard từ trên giáng xuống người tên đàn ông kia.
Tên đó ngất đi, Leonard phủi phủi vết máu dính lên người, ngẩng đầu nhìn Klein, cười ha ha nói: “Bắn không tệ đấy.”
Tôi định bắn vào chân hắn cơ… Khóe miệng Klein khe khẽ run rẩy, chóp mũi ngửi thấy mùi máu tươi nhàn nhạt.
Hắn phát hiện sau khi mình uống ma dược “Thầy Bói” rồi, tuy thị lực, thính giác và xúc giác không tăng lên, nhưng vẫn có thể “nhìn” được thứ bị che chắn, vẫn có thể “nghe” được tiếng bước chân nho nhỏ để từ đó phán đoán trước.
Những điều đó thuộc về phạm trù “linh cảm”? Klein gật đầu như có suy nghĩ gì đó, nhìn Leonard lục lọi một con dao sắc từ trên người tên đồng bọn, nhìn anh ta “tha” tên kia vào trong phòng.
Klein tay cầm súng, tay kia cầm gậy đi vào phòng của bọn bắt cóc.
Lúc này Elliot Vek’lor bị tiếng súng đánh thức, cơ thể vốn cuộn tròn đã duỗi thẳng ra, cũng từ từ ngồi dậy.
Ba tên bắt cóc lúc đầu đã bị Leonard dùng dây thừng mà bọn chúng trói Elliot buộc chặt lại thành một chuỗi, quẳng vào một góc – nếu không đủ thì xé quần áo của bọn chúng thay thế.
Kẻ bị súng bắn trúng bả vai, đang hôn mê được băng bó lại, nhưng Leonard ghét bẩn nên không lấy viên đạn ra cho hắn.
“Các anh… Các anh là?” Elliot nhìn cảnh tượng trước mặt, vui mừng lắp bắp nói.
“Đúng, cậu đoán rất đúng, rất chính xác.” Leonard đang ngồi xổm thuận miệng trả lời.
Không thể ngờ kẻ này cũng có tế bào hài hước đó… Klein hạ súng xuống, nhìn Elliot, nói: “Chúng tôi là lính đánh thuê mà cha của cậu đã thuê, cậu cũng có thể gọi chúng tôi là nhân viên bảo an.”
“Phù, thật sao? Tôi được cứu rồi à?” Elliot rất vui sướng, nhưng lại không dám cựa quậy linh tinh.
Có thể nhìn ra trong mấy tiếng bị bắt cóc ngắn ngủi cậu ta đã trải qua không ít gian khổ, nhưng lại không có sự kích động vốn có của độ tuổi của cậu ta.
Leonard đứng lên, nói với Klein:
“Anh xuống dưới tìm cảnh sát tuần tra, bảo họ thông báo cho vị thương nhân thuốc lá kia.
Tôi không muốn giống một tên cướp xách một thằng nhóc với bốn tên kia ra ngoài.”
Klein vốn đang nghĩ tiếp theo nên làm thế nào nghe vậy thì gật đầu, cất súng đi, xách gậy đi tới phía cầu thang.
Lúc đi xuống, hắn cảm thấy dường như mình quên mất điều gì, cũng nghe thấy Leonard nói với Elliot:
“Không phải khẩn trương đâu, cậu sắp được gặp cha, mẹ và lão quản gia Clea rồi, hay là chúng a làm một ván Quint nhé?”
Klein cố nín cười, đi ra đường phố bên ngoài, dựa theo người qua đường chỉ điểm mà tìm được hai cảnh sát tuần tra.
Hắn không sử dụng tới huy chương và giấy chứng nhận của “Bộ phận Hành động Đặc biệt”, mà dùng danh hiệu của nhân viên bảo an chuyên nghiệp kể lại sự tình từ đầu chí cuối.
Còn về vấn đề cầm vũ khí thì hắn không hề lo lắng chút nào, bởi hôm kia hắn vừa nhận được “Chứng nhận Sử dụng Toàn bộ các loại vũ khí” – xin qua con đường nội bộ nên được phê duyệt rất nhanh.
Hai cảnh sát liếc nhau, một người đi gọi trợ giúp và thông báo cho nhà Vek’lor, người kia thì theo Klein trở lại chỗ căn phòng của bọn bắt cóc.
Chờ hơn bốn mươi phút, nhân lúc cảnh sát không chú ý, Leonard nháy mắt với Klein bảo hắn theo mình chuồn khỏi căn phòng này.
“Tin tôi đi, tới cục cảnh sát lãng phí thời gian lắm, chúng ta đi trước thôi.” Vị Kẻ Gác Đêm có khí chất thi sĩ này giải thích với vẻ mặt khá thoải mái.
Klein thì mang theo tâm tình trời sập đã có kẻ khác chống đỡ cho ta nên không phản bác mà đi theo sau.
Năm phút sau, mấy cỗ xe ngựa lao qua đường tới trước tòa nhà chỗ bọn bắt cóc ở.
Lão quản gia Clea đi theo ông chủ béo mập Vek’lor của ông ta xuống xe.
Tới lúc này ông ta hãy còn ngơ ngác vì không tin rằng tin tốt tới nhanh như vậy, nhanh như một giấc mơ.
Đột nhiên ông ta nghe thấy một tiếng lộp bộp giòn tan vang lên, bèn quay đầu lại theo bản năng: Một cỗ xe ngựa hai bánh chạy qua, cửa sổ được mở sẵn, Leonard tóc đen mắt xanh vỗ tay.
Sau khi lướt qua xe ngựa nhà Vek’lor, Leonard đóng cửa sổ lại, quay người nhìn về phía Klein.
Anh ta mỉm cười giơ tay phải lên:
“Hợp tác vui vẻ!”
Hình như chúng ta không quen… Klein lễ phép vỗ tay với anh ta.
Hắn không ngờ vụ bắt cóc này được giải quyết nhanh như vậy, chỉ có thể ngầm cảm khái quả nhiên người phi phàm đúng là người phi phàm, dù là một tên gà mờ danh sách 9 như hắn cũng có thể làm được nhiều chuyện khó mà tưởng tượng được.
“Đây là động tác bày tỏ chúc mừng của các quý tộc sau khi đấu kiếm xong.” Leonard mỉm cười giải thích.
“Tôi biết.” Klein có không ít bạn là quý tộc.
Hắn nhìn ra ngoài cửa sổ, khẽ nhíu mày lại, nói: “Chúng ta không xác nhận lại với ông Clea kia à? Nếu ông ta cho rằng cảnh sát giải cứu Elliot thì tiền của chúng ta sẽ ít đi một nửa.”
Mất chừng 100 bảng!
Còn chuyện cung cấp địa chỉ của bọn bắt cóc, bởi vì “vừa gặp” ban nãy nên không có vấn đề gì.
“Không phải để ý, với người như chúng ta, tiền bạc không quan trọng như vậy.” Leonard buông lỏng tay, cười nói.
… Với tôi thì quan trọng lắm! Klein nặn ra một nụ cười lịch sự: “Không ít nhà thơ vì bần cùng mới chết sớm!”
Leonard cười một tiếng:
“Tôi tin rằng Elliot sẽ không nói dối về chuyện này, tôi thấy thằng bé hãy còn hồn nhiên lắm.
Chẳng qua là dù có lấy được thù lao 200 bảng, anh cũng không được mấy đâu.”
“Tôi được chia bao nhiêu?” Klein bèn hỏi.
“Dựa theo quy tắc bất thành văn từ trước đến nay ấy, một nửa thù lao phải giao cho phu nhân Olean để thêm kinh phí cho tiểu đội, còn lại thì chia đều cho các đội viên tham gia.
Tiếc là anh không phải thành viên chính thức, có lẽ chỉ lấy được chừng 10% thôi.”
10 bảng? Không tệ… Klein vờ như mình không đau lòng, mà hỏi lại:
“Anh không sợ bọn bắt cóc tỉnh lại sẽ biết mình bị ảnh hưởng bởi sức mạnh phi phàm à?”
“Bọn họ sẽ không nghi ngờ mà cho rằng thời tiết quá đẹp cho việc nghỉ ngơi, nên mới không kiềm được mà lăn ra ngủ.
Thậm chí bọn họ còn tin rằng tiếng ngâm thơ kia là ở trong giấc mơ.
Đây là chuyện bọn tôi đã nghiệm chứng từ trước rồi.” Leonard trả lời rất tự tin: “Trái lại viên đạn săn ma kia của cậu sẽ khiến người ta cảm thấy kỳ quái, đương nhiên một vài kẻ lập dị thích thần bí học là lời giải thích rất hợp lý.”
“Ừm.” Klein buông lo lắng xuống, cảm thấy mình quên mất, hoặc là bỏ qua cái gì đó.
Trở lại phố Zoutelande, Klein không chờ Clea đi tới đã tản bộ tới nơi ở của Welch, đổi tuyến đường khác về nhà, nhân tiện mua thịt bò, cải bắp và mấy thứ khác cho bữa tối.
Vẫn là một bữa tối ngon miệng, ba anh em vẫn vừa học tập vừa nhàn nhã tán gẫu, chỉ là có vị khách tới gõ cửa.
Đó là nhân viên tới lấy tất cả đồng 1 penny trong máy tính phí gas.
Bóng đêm dần khuya, ba anh em chúc nhau ngủ ngon rồi tự trở về phòng mình.
Klein đang ngủ say, bỗng có tiếng loạt xoạt vang lên ngoài mặt chăn đánh thức hắn dậy.
Hắn nghi ngờ mở cửa ra, đi tới căn phòng ngủ vốn không có ai ở.
Đẩy cánh cửa loang lổ ra, Klein nhìn thấy một chiếc bàn màu xám.
Trên bàn có bày một quyển bút ký với phần bìa làm từ giấy cứng, bị nhuộm màu đen sì.
Một cảm giác quen thuộc khó hiểu bỗng nổi lên trong lòng, Klein đi tới, mở cuốn bút ký ra!
Trang được hắn giở ra có vẽ một hình, đó là “Kẻ Khờ” mặc quần áo đẹp đẽ, đeo đồ trang sức sáng rực!
Bên dưới “Kẻ Khờ” có một dòng chữ viết bằng tiếng Hermes:
“Tất cả mọi người đều chết, kể cả ta.”
Klein kinh hãi, chợt phát hiện khóe miệng “Kẻ Khờ” nhếch lên!
Soạt! Hắn bỗng ngồi bật dậy, nhìn thấy ánh trăng đỏ rực chiếu xuyên qua khung cửa sổ, thấy giá sách và bàn học, thấy bóng dáng của mình trong phòng ngủ, nhận ra mình vừa gặp ác mộng.
Thân là “Thầy Bói”, hắn hiểu rằng giấc mơ luôn vén màn cái gì đó, vì thế hắn chăm chú hồi tưởng lại.
Trong quá trình hồi tưởng, Klein đờ người ra, bởi hắn biết hôm nay mình không để ý cái gì!
Lúc đắm chìm trong bài thơ của Leonard, hắn bị nhìn chăm chú vô hình, hờ hững từ sau lưng.
Cảm giác bị nhìn như vậy giống với khi hắn minh tưởng hoặc sử dụng linh thị, đều khiến hắn cảm thấy quen thuộc!
Mà dựa theo cách nói của đội trưởng Dunn, một khi xuất hiện cảm giác tương tự rất có nghĩa là…
Klein ngồi thẳng người dậy, xác nhận lại:
Đúng, chính là nó, cuốn bút ký kia! Cuốn bút ký của gia tộc Antigenous!
Chương 45: Quay Lại
Cuốn bút ký của gia tộc Antigenous nằm trong trong căn phòng đối diện với phòng của bọn bắt cóc!
Tuy điều này quá trùng hợp, nhưng Klein cảm thấy cảm giác của mình không sai.
Hắn lập tức bò dậy, cởi bộ đồ cũ mà hắn thường mặc khi ngủ, rồi cầm lấy áo sơ mi bên cạnh phi lên người, nhanh chóng cài cúc áo vào.
Một cúc, hai cúc, ba cúc… Hắn bỗng phát hiện “thiếu” một cúc áo, mà tà áo hai bên có vẻ lệch nhau.
Nhìn kỹ hắn mới phát hiện mình cài lệch từ lúc đầu, cho nên khiến áo sơ mi trở nên lệch theo.
Hắn bất đắc dĩ lắc đầu, hít một hơi thật sâu rồi từ từ thở ra, sử dụng vài kỹ xảo minh tưởng để bản thân tỉnh táo trở lại.
Mặc xong áo sơ mi màu trắng với quần dài màu đen, hắn mới tạm coi là bình tĩnh mà cài đai an toàn dưới xách, sau đó lấy khẩu súng ổ xoay ra từ dưới gối mềm đặt vào trong bao đựng súng.
Bỏ qua việc thắt nơ, hắn khoác thêm áo vest, một tay cầm mũ tay kia xách gậy đi tới cửa.
Đội chiếc mũ lên đầu, Klein nhẹ nhàng vặn nắm tay cửa, mở cửa rồi đi ra hành lang.
Hắn cẩn thận đóng cửa lại, như kẻ trộm nhẹ nhàng gần như là không tạo ra tiếng động nào đi xuống cầu thang, dùng bút máy với giấy ở trong phòng khách viết hai dòng chữ rằng tối hôm qua quên nói rằng công ty có việc, hôm nay cần phải đến sớm.
Đi ra khỏi cửa, Klein lập tức cảm nhận cơn gió mát mẻ thổi tới, khiến toàn thân bình tĩnh trở lại.
Con đường trước mặt hắn mờ tối và yên lặng, không có người nào đi lại, chỉ có đèn khí gas đang lẳng lặng tỏa ra ánh sáng.
Klein lấy đồng hồ bỏ túi ra khỏi túi áo, ấn chóp mở ra, thấy giờ mới sáu giờ, mặt trăng đỏ chưa hoàn toàn lặn xuống, nhưng ánh sáng đã lóe lên từ phía chân trời.
Hắn định tìm một cỗ xe ngựa cho thuê đắt đỏ, đột nhiên thấy một cỗ xe ngựa tuyến không cố định bốn bánh cho hai con ngựa kéo nhanh chóng lái qua đây.
“Xe ngựa công cộng chạy sớm thế à?” Klein cảm thấy kinh ngạc, nhưng vẫn ngoắc tay gọi xe dừng lại.
“Chào buổi sáng tốt lành.” Lái xe ngựa thuần thục ghìm ngựa dừng lại.
Nhân viên thu phí bên cạnh anh thì thì giơ tay che miệng, ngáp một cái rõ to.
“Tới phố Zoutelande.” Klein vừa nói vừa móc hai đồng 1 penny và bốn đồng nửa penny ra khỏi túi quần.
“4 penny.” Nhân viên phụ trách thu tiền trả lời không chút do dự.
Sau khi giao tiền xe, Klein đi lên, bên trong trống rỗng không có vị khách nào, khiến bóng tối trong đó lại càng lạnh lẽo hơn.
“Anh là người đầu tiên.” Lái xe cười nói.
Hai con ngựa màu nâu bước đi, khá là nhẹ nhàng kéo xe đi.
“Nói thật tôi không nghĩ sáng sớm như này lại có xe ngựa công cộng đâu.” Klein ngồi gần vị trí lái xe, thuận miệng đáp một câu nhằm phân tán sự chú ý khiến đầu óc bớt căng thẳng.
Lái xe tự giễu: “Làm từ sáu giờ sáng tới chín giờ tối, ngày nào cũng vậy, mà lương một tuần của tôi mới có 1 bảng.”
“Không có ngày nghỉ à?” Klein kinh ngạc hỏi.
“Mỗi tuần được nghỉ luân phiên một ngày.” Ngữ khí của lái xe trở nên nặng nề.
Nhân viên thu phí bên cạnh anh ta bổ sung:
“Chúng tôi phụ trách sáu giờ sáng tới mười một giờ trưa, sau đó ăn trưa, ngủ trưa, chờ đến sau bữa tối, chính là sáu giờ ấy, lại thay đồng nghiệp… Cho dù chúng tôi không cần nghỉ nhưng lũ ngựa vẫn cần.”
“Lúc trước không phải như này.
Từ khi có lái xe mệt quá gây ra tai nạn, không điều khiển được ngựa khiến toa xe bị lật, mới có việc thay phiên như vậy… Đám quỷ hút máu đó sao có thể đột nhiên trở nên tốt bụng được chứ!” Lái xe cười nhạo.
Dưới ánh sáng ban mai, cỗ xe ngựa công cộng này chạy tới phố Zoutelande, dọc đường cũng chỉ có bảy, tám khách lên xe.
Sau khi đã vơi bớt căng thẳng, Klein không nói gì nữa mà nhắm mắt lại, nhớ lại những gì đã trải qua ngày hôm qua xem mình có quên gì nữa không.
Khi mặt trời hoàn toàn mọc lên, bầu trời trở nên sáng ngời, xe ngựa đã tới phố Zoutelande.
Klein giơ tay trái ấn mũ, nhảy xuống xe ngựa.
Hắn nhanh chóng bước vào số 36 phố Zoutelande, theo cầu thang đi lên công ty Bảo an Gai Đen.
Lúc này cửa vẫn đóng, chưa được mở ra.
Klein gỡ xâu chìa khóa bên hông xuống, tìm chìa màu đồng thau rồi nhét vào khóa, vặn chìa vang lên tiếng “răng rắc”.
Hắn đẩy cửa làm cửa phòng mở vào trong, rồi thấy Leonard Mitchell đang ngửi điếu thuốc lá đang thịnh hành gần đây.
“Thực tế thì tôi thích xì gà hơn… Trông anh có vẻ rất vội nhỉ?” Vị Kẻ Gác Đêm trông giống nhà thơ ung dung thoải mái hỏi.
“Đội trưởng đâu rồi?” Klein không đáp mà hỏi lại.
Klein chỉ vào vách ngăn:
“Trong phòng làm việc của anh ấy.
Là một người phi phàm thăng lên từ ‘Kẻ Không Ngủ’, anh ta chỉ cần nghỉ ngơi hai giờ vào ban ngày là được.
Tôi nghĩ chắc đám chủ ngân hàng với nhà máy thích loại ma dược này nhất.”
Klein gật đầu, bước nhanh qua vách ngăn, thấy Dunn Smith đã mở cửa phòng làm việc, đang đứng ở lối vào.
“Có chuyện gì vậy?” Anh ta mặc áo gió màu đen, cầm một chiếc gậy batoong mạ vàng, vẻ mặt điềm tĩnh và nghiêm túc.
“Tôi có cảm giác ‘dường như đã gặp ở nơi nào rồi’, hẳn là cuốn bút ký kia, bút ký của gia tộc Antigenous.” Klein cố gắng khống chế bản thân để câu trả lời có vẻ trật tự và rõ ràng.
“Ở chỗ nào?”
Sắc mặt Dunn Smith hoàn toàn không thay đổi.
Nhưng linh cảm cho Klein biết dường như có một dao động vô hình và rõ ràng xuất hiện trên người anh ta, có lẽ là linh lấp lóe, hoặc là biến hóa về cảm xúc.
“Ngay ở chỗ mà tôi và Leonard giải cứu con tin hôm qua, ở đối diện căn phòng của bọn bắt cóc.
Lúc ấy tôi không phát hiện, tới khi nằm mơ mới được gợi ý.” Klein không hề dấu giếm gì.
“Xem ra hôm qua tôi đã bỏ lỡ một công lao vô cùng lớn rồi.” Leonard, không biết đã tới chỗ này từ lúc nào, khẽ cười một tiếng.
Dunn khẽ gật đầu, ra lệnh với vẻ mặt nghiêm túc:
“Bảo Cornley thay lão Neil trông kho vũ khí, gọi Neil với Frye đi cùng chúng ta.”
Leonard không tỏ ra tùy tiện nữa, mà lập tức thông báo Cornley với Frye trong phòng giải trí của Kẻ Gác Đêm.
Cornley là “Kẻ Không Ngủ”, còn Frye là “Người Nhặt Xác”.
Năm phút sau, một phần của tiểu đội Kẻ Gác Đêm lên xe ngựa hai bánh nhanh chóng lên đường, trong sáng sớm vẫn chưa có nhiều người đi đường.
Leonard đội mũ nỉ, mặc áo sơ mi với gile, đảm nhiệm lái xe lâm thời, thi thoảng lại vung roi lên không khí phát ra tiếng kêu giòn vang.
Trong buồn xe, Klein ngồi cùng bên với lão Neil, đối diện là Dunn Smith và Frye.
Vị “Người Nhặt Xác” này có làn da trắng như đã lâu không phơi nắng hoặc là thiếu máu nghiêm trọng.
Anh ta chừng ba mươi tuổi, tóc đen mắt lam, mũi cao và thẳng, môi khá mỏng, có khí chất lạnh lẽo và âm u cùng với mùi hương nhàn nhạt như hàng năm phải tiếp xúc với thi thể.
“Cậu kể lại kỹ càng và tỉ mỉ một lần đi.” Dunn sửa cổ áo của chiếc áo gió màu đen của mình.
Klein vuốt ve thạch anh vàng treo trên sợi dây dưới tay áo, bắt đầu kể từ lúc nhận ủy thác tới giấc mơ vừa rồi.
Lão Neil ngồi bên hắn cười khì khì, nói:
“Cậu với cuốn bút ký gia tộc Antigenous dường như bị ràng buộc kiểu số mệnh nào đó, thế mà cũng gặp được.”
Đúng vậy, như này thật quá trùng hợp! Nếu lúc trước Leonard không nói rằng qua kết quả điều tra ban đầu cho thấy vụ Elliot bị bắt cóc không hề có sự điều khiển của thế lực bí ẩn hoặc lực lượng thần bí, mà chỉ là một vụ án túng quá hóa liều, tôi cũng nghi là bị ai cố ý sắp đặt… Klein cảm thấy chuyện này rất kỳ quái, quá đỗi trùng hợp!
Dunn không nói gì, dường như đang nghĩ chuyện gì đó. “Người Nhặt Xác” Frye cũng mặc áo gió màu đen vẫn giữ nguyên im lặng.
Mãi tới khi xe ngựa dừng lại, tòa nhà mà Klein nói xuất hiện bên ngoài cửa sổ, sự im lặng này mới bị phá vỡ.
“Chúng ta lên nào.
Klein, cậu với lão Neil đi ở sau cùng, cẩn thận, bắt buộc phải cẩn thận.” Dunn xuống xe, lấy một khẩu súng lục kỳ quái với phần nòng có vẻ hơi dài và hơi xù xì từ trong ngực, rồi nhét nó vào túi áo bên phải.
“Vâng.” Klein nào dám lỗ mãng xông tới trước nhất.
Chờ khi Leonard tìm được người trông xe ngựa, năm người phi phàm trước sau tự động tiến vào cầu thang, bước chân rất nhẹ đi lên tầng ba.
“Chính là chỗ này à?” Leonard chỉ vào căn phòng đối diện phòng của bọn bắt cóc.
Klein gõ nhẹ lên ấn đường hai cái mở linh thị ra.
Ở trạng thái này, linh cảm của hắn lại tăng lên, chỉ cảm thấy mình dường như nhận ra cánh cửa kia, chính mình như đã từng vào bên trong.
“Đúng vậy.” Hắn gật đầu khẳng định.
Lão Neil cũng mở linh thị ra quan sát cẩn thận, sau đó nói: “Bên trong không có ai, cũng không có ánh sáng của ma pháp.”
“Người Nhặt Xác” Frye khàn giọng bổ sung: “Không có ác linh.”
Anh ta không cần mở linh thị vẫn có thể thấy được rất nhiều thể linh hồn, gồm cả ác linh và oan hồn.
Leonard bước lên một bước, tung một nắm đấm đánh lên khóa cửa hệt như ngày hôm qua.
Lúc này, không chỉ ván gỗ xung quanh vỡ vụn, ngay cả khóa cửa cũng bị đánh bay, rơi lộc cộc xuống đất.
Klein chỉ cảm thấy sự túng bí vô hình nào đó biến mất, ngay sau đó hắn ngửi thấy một mùi tanh rất nồng.
“Thi thể! Thi thể đã thối rữa!”
“Người Nhặt Xác” Frye lạnh lùng trần thuật, anh không hề có dấu hiệu như buồn nôn gì cả.
Dunn giơ tay phải có đeo găng tay đen từ từ đẩy cửa phòng ra.
Thứ ánh vào mắt mọi người đầu tiên chính là một lò sưởi trong tường.
Trong tiết trời tháng Bảy, trong phòng ngập tràn sự oi bức không hề bình thường.
Ở phía trước lò sưởi có bày một ghế đu, một bà lão mặc váy áo màu trắng đen đang ngồi trên đó, đầu rũ xuống.
Cả người bà ta trở nên to hơn rất nhiều một cách bất thường, da toàn thân màu xanh đen, phồng lên và phát sáng, dường như chỉ chọc một cái là sẽ vỡ tung, phun ra mùi hôi thối.
Mà những con giòi bọ hoặc động vật ký sinh nhung nhúc bò ra từ trong thịt, trong dịch thối hoặc nếp gấp của váy áo – trong linh thị, chúng nó tựa như những đốm sáng đang bao quanh một chùm “tối đen” sắp tắt.
Lộc cộc.
Hai con mắt bà ta rơi xuống đất, lăn mấy vòng, để lại những vệt màu vàng.
Klein cảm thấy buồn nôn, lại không cách nào ngăn được mùi hôi thối ảnh hưởng, lập tức khom người nôn ọe.








![[Audio] Con Đường Bá Chủ [Audio] Con Đường Bá Chủ](https://audiosite.net/wp-content/uploads/2023/05/Audio-Con-Duong-Ba-Chu-18-See-Audio-Truyen.jpg)


![[Dịch] Mục Thần Ký (Hắc Tây Du) [Dịch] Mục Thần Ký (Hắc Tây Du)](https://audiosite.net/wp-content/uploads/2023/02/Audio-Muc-Than-Ky-Hac-Tay-Du.jpg)

![[Dịch] Âm Dương Tạo Hóa Kinh [Dịch] Âm Dương Tạo Hóa Kinh](https://audiosite.net/wp-content/uploads/2025/01/Dich-Am-Duong-Tao-Hoa-Kinh-Audio-Truyen.jpg)






![[Dịch] Hồng Liên Bảo Giám [Dịch] Hồng Liên Bảo Giám](https://audiosite.net/wp-content/uploads/2023/08/Hong-Lien-Bao-Giam-Audio-FUll.jpg)



