1. Home
  2. Truyện Kiếm Hiệp
  3. [Dịch] Sáp Huyết
  4. Tập 2: Ám Lưu – Chém giết (c11-c20)

[Dịch] Sáp Huyết

Tập 2: Ám Lưu – Chém giết (c11-c20)

❮ sau

Chương 11 : Ám Lưu

Quách Tuân không biết Thái Hậu tìm mình có chuyện gì nhưng chợt liên tưởng tới đám Phiên tăng đi trên đường cái khi nãy. Gã nghĩ thầm: “Tạng Biên(1) cực kỳ thần bí, mình đã từng nghe qua mấy cao thủ Tạng Mật(2) ở đó. Nghe nói vua Thổ Phiên là Cổ Tư La có thể thoát khỏi khống chế của Phiên tăng – Lý Lập Tuân là nhờ vào ba cao thủ Tạng Mật là Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí và Bất Không. Dựa vào sự trợ giúp của ba tên thuộc hạ này mà thế lực của Cổ Tư La dù mới gầy dựng nhưng cũng không thể xem thường. Tên Lạt Ma vừa đi ngang qua trên đường hình như là thủ hạ Bất Không của Cổ Tư La. Tuy nhiên, Cổ Tư La vẫn còn đang phát triển thế lực, cớ sao lại muốn phái người đến Biện Kinh? Nhìn thanh thế của Bất Không thì chắc là đến giao hảo, nếu không thì cấm quân sớm đã can thiệp rồi. Chẳng lẽ Thái Hậu triệu mình vào cung là có liên quan tới gã Bất Không này sao?”

Đang lúc suy nghĩ miên man thì La Sùng Huân đi tới. Hắn cất giọng the thé:

– Quách Tuân, ngài đã đến rồi.

Quách Tuân mỉm cười hỏi:

– Không biết Cung Phụng đại nhân có điều gì dặn dò?

La Sùng Huân nhìn Quách Tuân từ trên xuống dưới đoạn nói:

– Nghe đâu ngài hiện giờ được xem là đệ nhất cao thủ cấm quân ở Biện Kinh. Không biết là thật hay giả?

Quách Tuân không tự ti cũng không kiêu ngạo nói:

– Danh xưng đệ nhất cao thủ, tại hạ nào dám đảm đương? Cung Phụng đại nhân nói đùa rồi.

– Khoảng hai mươi năm trước, ngài chỉ là một tên thị vệ tầm thường trong cung.

La Sùng Huân tán thán.

– Thoáng cái đã qua nhiều năm như vậy. Ngự tiền thị vệ của tiên đế còn lại không được bao nhiêu. Võ nghệ như ngài mà chỉ làm Điện tiền chỉ huy sứ, đúng là nhân tài không được trọng dụng. Nếu như…

La Sùng Huân giả vờ trầm ngâm. Hắn lia mắt nhìn Quách Tuân rồi mỉm cười yên lặng chờ Quách Tuân dò hỏi.

Quả nhiên Quách Tuân hỏi:

– Nếu như cái gì?

La Sùng Huân thản nhiên nói:

– Nếu như ngài có thể giúp Thái Hậu làm chút chuyện, cho dù là thống lĩnh lưỡng sương hay làm quan trong Tam Nha cũng dễ như trở bàn tay.

Quách Tuân cười nói:

– Với chút năng lực này của hạ quan. Nếu vào Tam Nha có lẽ sẽ bị người ta cười đến rụng răng mất.

Đáp xong, gã lái câu chuyện sang hướng khác:

– Không biết Thái Hậu triệu hạ quan đến đây là có điều gì phân phó?

Gã thầm nhủ: “Không biết La Sùng Huân lấy lòng là ý của Thái Hậu hay là ý của riêng hắn? Nếu là ý của hắn thì phải đề phòng hắn đâm lén một đao. Nếu là ý của Thái Hậu thì có thể thấy Thái Hậu đang lôi kéo nhân thủ. Chẳng lẽ Thái hậu thật sự không muốn nhường ngôi cho thiên tử sao?”

La Sùng Huân lắc đầu, trong mắt thoáng hiện vẻ giận dữ. Hắn thầm nghĩ, “Tên Quách Tuân này thật không biết điều”.

Lúc này, từ phía trong cung có một thái giám vội vàng chạy tới hỏi:

– Cung Phụng đại nhân, Thái Hậu thúc hỏi, Quách Tuân khi nào mới tới?

La Sùng Huân cất giọng the thé đáp:

– Gấp cái gì, không thấy đang tới sao?

Tiếp đó hắn uốn éo cái mông đi trước dẫn đường. Khi vào đến cung Trường Xuân, La Sùng Huân bước tới phòng, quỳ xuống trước rèm châu, kính cẩn nói:

– Khởi bẩm Thái Hậu, tiểu nhân đã đưa Quách Tuân đến.

Quách Tuân quỳ một chân trên mặt đất nói:

– Thần, Điện tiền chỉ huy sứ Quách Tuân, khấu kiến Thái Hậu.

– Đứng lên đi.

Giọng nói sau rèm có chút khàn khàn nhưng vẫn lộ vẻ uy nghiêm.

Quách Tuân chậm rãi đứng dậy, cũng không hỏi tiếp nữa. Dẫu sao đã đến đây rồi, Thái Hậu cuối cùng cũng phải nói ra dụng ý. Ở sau rèm, Lưu thái hậu trầm mặc một lát mới nhẹ giọng nói:

– Quách Tuân, từ lúc tiên đế băng hà đến nay, ta rất ít khi gặp ngươi. Mấy năm qua, ngươi bận rộn ngược xuôi, vì nước tận lực, đã khổ cực nhiều.

Quách Tuân trả lời:

– Đây là bổn phận của thần. Thái Hậu tất bật với chính sự mới thật vất vả.

Lưu thái hậu đột nhiên thở dài:

– Ta đúng là mệt mỏi, nhưng thiên tử vẫn còn chưa hiểu chuyện. Than ôi.

Quách Tuân nghĩ không thấu tâm tư của Lưu thái hậu, dè dặt nói:

– Nhưng dù sao thái tử cũng đã có thể xử lý chính sự, Thái Hậu nếu muốn rèn luyện cho Hoàng thượng thì bây giờ vừa đúng lúc.

Lưu thái hậu trầm mặc hồi lâu rồi nói tiếp:

– Cổ Tư La phái thủ hạ đến Biện Kinh, hắn ta tên là Bất Không.

Nghe vậy, Quách Tuân thầm nghĩ: “Tên Phiên tăng vừa mới gặp trên đường quả nhiên là Bất Không! Thái Hậu rốt cuộc vẫn không chịu bàn đến việc trao trả triều chính cho thiên tử.”

Lưu thái hậu lại nói:

– Hiện nay Tây Bình vương Triệu Đức Minh(4) đã tới lúc xế chiều. Song Triệu Nguyên Hạo(5) dã tâm bừng bừng. Hắn gần đây làm không ít chuyện lớn, đã trở thành tai họa ngầm của triều đình. Trước đoạn thời gian, Triệu Nguyên Hạo tuyên chiến với Thổ Phiên, giằng co với Cổ Tư La không dứt…

Quách Tuân biết Tây Bình vương Triệu Đức Minh, hơn nữa còn nghe qua con của y là Triệu Nguyên Hạo. Lúc nghe đến ba chữ Triệu Nguyên Hạo, Quách Tuân thốt nhiên trở nên nghiêm nghị nói:

– Khi Tào Vĩ tướng quân còn tại thế đã có nói dã tâm của Nguyên Hạo rất lớn. Bây giờ Nguyên Hạo đánh nhau với Cổ Tư La chính là việc may của Đại Tống ta.

Trong đầu gã lại nghĩ: “Chuyện này có quan hệ đến chuyện Bất Không đến Biện Kinh sao?”

Mấy phần thiên hạ ngày nay, trừ Đại Liêu ở phía bắc khống chế mười sáu châu vùng Yến – Vân(6) nên có thế lực ngang bằng với Đại Tống ra, biên thuỳ phía Tây Bắc nhiều lần xảy ra chiến sự, đã trở thành tai họa ngầm từ lâu. Năm đó, sau khi Tống Thái Tổ lập quốc, vì cầu thống nhất giang sơn, để tránh dây dưa với quá nhiều cường địch nên dùng chiến lược “trước Nam sau Bắc”. Thái Tổ cắt đất, phong vương cho thủ lĩnh tộc Đảng Hạng là Lý Di Hưng (con cháu của Thác Bạt Tư Cung ) làm Tây Bình vương, địa vị cắt cứ Định Nam quân Tiết Độ Sứ, để đổi lấy sự thần phục của hắn. Trước đây vào thời nhà Đường, Thác Bạt Tư Cung có công bình định phản loạn, con cháu được ban cho họ Lý, về sau quy thuận Đại Tống, lại được ban thưởng họ Triệu.

Hai mươi năm đầu nhà Tống, Đại Tống vì thống nhất đại nghiệp nên nâng đỡ tộc Đảng Hạng ở Hạ Châu để kiềm chế Bắc Hán. Kết quả, sau khi Bắc Hán diệt vong, tộc Đảng Hạng ở Hạ Châu đã đủ lông đủ cánh, từ đó trở thành tai họa ngầm của nhà Tống. Tộc Đảng Hạng sau khi trải qua sự lãnh đạo của Lý Quang Duệ, Lý Kế Quân thì đến lượt Lý Kế Phủng nắm quyền. Nhưng vì Lý Kế Phủng không đủ năng lực nên tộc Đảng Hạng rơi vào nguy cơ bị triều Tống thu phục. Vào thời điềm đó, tộc đệ của Lý Kế Phủng là Lý Kế Thiên đột nhiên nổi dậy dẫn dắt tộc Đảng Hạng xông pha đánh về Mạc Bắc xây dựng cơ sở tiếp tục kháng cự Đại Tống. Trải qua con của Lý Kế Thiên là Lý Đức Minh không ngừng hao tâm tổn sức, thế lực của tộc Đảng Hạng càng thêm mở rộng. Đến lúc con trai của Lý Đức Minh là Nguyên Hạo yên vị, hắn càng biểu hiện ra dã tâm bừng bừng.

Những năm gần đây, tuy Đức Minh đã già nhưng Nguyên Hạo lại bắt đầu tiến hành chinh phạt bốn phương, thỉnh thoảng còn khơi mào tranh chấp ở biên cương Tây Bắc của Đại Tống, trở thành ‘kho bom sát vách’ của Đại Tống. Nhưng hiển nhiên Lưu thái hậu vẫn không coi trọng hai cha con họ, khi nhắc đến cha con họ Triệu này thì trong giọng điệu tràn đầy sự khinh miệt. Nói nôm na là Lưu Thái hậu cho rằng cha con Đức Minh chỉ là tôi tớ được Đại Tống ban cho họ mà thôi.

Trầm mặc một lát, Lưu thái hậu lại nói tiếp:

– Cổ Tư La mặc dù tạm thời có thể chống lại Nguyên Hạo, nhưng cảm thấy nhuệ khí của Nguyên Hạo đang hừng hực nên mới muốn đầu nhập vào triều ta, hy vọng Đại Tống ta có thể xuất binh giáp công Nguyên Hạo. Hắn nói nếu có thể đánh bại Nguyên Hạo thì chỉ mong triều đình phong thưởng Qua Châu và Sa Châu. Không biết ngươi nhìn nhận vấn đề này ra sao?

Lưu thái hậu ngoài miệng thì hỏi ý kiến, nhưng trong lòng thì cảm thấy khó hiểu, ‘thổ nhưỡng Qua Châu và Sa Châu cằn cỗi, dân cư thưa thớt, Cổ Tư La vì sao chỉ muốn hai nơi này?’

Quách Tuân cẩn thận đáp:

– Thần chỉ là Điện tiền chỉ huy sứ, không dám thảo luận bừa chuyện chính sự. Chuyện này đã có Lưỡng Phủ định đoạt.

Lưu thái hậu ở phía sau rèm nói:

– Tể tướng, tham chính còn có Xu Mật sứ đều nói triều đình không nên xuất binh giáp công Nguyên Hạo, cứ để cho bọn chúng tàn sát lẫn nhau. Triều ta có thể ngư ông đắc lợi.

Quách Tuân tự hỏi: ‘Vậy bà còn hỏi tôi làm gì?’ Nhưng biết Thái Hậu tìm mình đến đây, nhất định là còn có nguyên do khác, nên nói bồi thêm:

– Lưỡng Phủ nói thế, tất có đạo lý.

Lưu thái hậu hồi lâu sau mới nói:

– Nhưng nếu không xuất binh mà muốn Cổ Tư La dốc sức, chỉ bằng vào ban thưởng phong hầu thì e rằng vẫn chưa đủ.

Quách Tuân cau mày hỏi:

– Lẽ nào…bọn chúng còn có yêu cầu khác sao?

Lưu thái hậu chậm rãi nói:

– Ngươi vừa đoán đã trúng, bọn chúng còn muốn —— Ngũ Long!

Thân hình Quách Tuân chấn động, sắc mặt biến hóa.

– Bọn chúng muốn Ngũ Long để làm gì?

Khoảnh khắc này, ánh mắt gã cực kỳ quái dị, tựa như hồi ức lại tựa như kinh sợ, còn mang theo nghi hoặc khôn cùng.

Lưu thái hậu lẩm bẩm nói:

– Ta cũng rất muốn biết bọn chúng muốn Ngũ Long để làm gì. Những Ngự tiền thị vệ của tiên đế biết Ngũ Long chỉ còn mình ngươi. Vì vậy, khi Bất Không đến đây, ngươi có thể ở một bên nghe xem. Biết đâu có thể nghe ngóng được chút manh mối.

Thoáng trầm ngâm, đoạn Lưu thái hậu hô:

– Triệu Bất Không vào cung.

Lần này đến đây, những tên Lạt Ma khiêng kiệu cho Bất Không đều bị chặn lại ở ngoài cung. Quách Tuân đứng ở bên cạnh rèm châu, thấy Bất Không chầm chậm đi tới, chẳng biết tại sao, tim cứ đập thình thịch. Bất Không đầu to thân gầy, giống như củ cải bị bứng khỏi đất trồng. Củ cải này rõ ràng đứng không vững, thoạt nhìn Bất Không cũng trôi nổi bồng bềnh như vậy. Quách Tuân có cảm giác rất kỳ lạ, như thể người này đang lơ lững giữa không trung.

Hai tay Bất Không kết thành ấn ký kỳ quái, đôi môi mấp máy nhưng không phát ra thanh âm gì. Khi đến gần rèm châu, hắn mới khom người thi lễ:

– Phật tử sứ giả Bất Không bái kiến Thái Hậu.

Cổ Tư La là phiên âm theo tiếng Thổ Phiên. Trung Nguyên thì gọi là Phật tử, ngụ ý là Phật thể chuyển thế.

Quách Tuân như hữu ý lại như vô ý đứng ngăn cách ở giữa Bất Không và Thái Hậu. Dù biết rõ chuyện trọng yếu lần này là thăm dò bí mật của Ngũ Long, nhưng cũng phải bảo vệ Thái Hậu. Tên Bất Không này chẳng những thần bí mà còn là cao thủ, gã không thể không đề phòng.

Quách Tuân hiểu biết sâu rộng. Gã biết Mật Tông có Tam Mật(7) là Thân, Khẩu, Ý. Vào đầu thời Đường, đại sĩ Liên Hoa Sanh(8) từ Bắc Ấn Độ vào Tây Tạng, truyền thụ Phật pháp Mật Tông, cao thủ Tạng Biên Mật Tông thì cực kỳ thần bí.

Muốn nói tỉ mỉ về Tam Mật, chỉ sợ nói hơn mấy tháng cũng chưa xong. Nhưng nói đơn giản thì thủ ấn “Thân” mật là một loại phương pháp tu trì, chân ngôn có thể xem là “Khẩu” mật, mà “Ý” mật là một loại lực ý chí. Cao thủ Tạng Mật đều tin rằng lấy tay kết ấn, miệng niệm chân ngôn, tu luyện lực ý chí là có thể kết nối với thần, nhận được thần lực.

Nhưng đa số người đều nửa tín nửa nghi với điều đó, thậm chí còn cho rằng đây là chuyện tầm xàm. Nếu không phải khi còn trẻ Quách Tuân đã gặp phải chuyện vô cùng thần bí thì cũng sẽ không tin Tam Mật của Mật Tông. Nhưng hiện giờ gã thà tin còn hơn không.

Tên Bất Không trước mặt này có thần trợ giúp hay không, Quách Tuân không dám khẳng định. Nhưng Quách Tuân thấy hai con ngươi hắn tràn đầy thần quang giống như có ma lực, vả lại cơ bắp Bất Không như sắt, Quách Tuân thật không dám có chút lơ là nào.

Lưu thái hậu cũng đang quan sát Bất Không, hồi lâu mới nói:

– Không cần đa lễ.

Chẳng những cơ bắp như sắt, mà giọng nói của Bất Không cũng sắc bén chói tai y như hai cái bạt sắt vỗ vào nhau.

– Phật tử thật lòng muốn kết thân với Đại Tống, khẩn cầu triều đình Đại Tống xuất binh cùng đánh Nguyên Hạo. Thái Hậu nói mấy ngày nữa sẽ có câu trả lời thuyết phục, hôm nay triệu thần vào cung, phải chăng đã có đáp án?

Hắn vừa vô ý vừa hữu ý liếc nhìn Quách Tuân, trong mắt hiện lên hào quang quỷ dị.

Lưu thái hậu chậm rãi đáp:

– Phật tử thật lòng muốn kết thân với Đại Tống, đây là việc may của thiên hạ. Ta đã nói với Lưỡng Phủ, quyết định phong cho Phật tử làm Ninh Viễn đại tướng quân, Ái Châu đoàn luyện sứ, Mạc Xuyên đại thủ lĩnh. Qua ít ngày nữa, Đại Tống còn chuẩn bị phát triển giao dịch trà ngựa với các ngươi, không biết ý của ngươi ra sao?

Bất Không thẳng thắn hỏi:

– Vậy còn chuyện xuất binh thì sao?

Lưu thái hậu lạnh nhạt nói:

– Phật tử muốn kết thân với Đại Tống, Triệu Đức Minh cũng muốn như thế. Ta không thể coi trọng bên này mà xem nhẹ bên kia. Qua vài ngày nữa ta sẽ viết một lá thư khuyên hắn bãi binh là được. Mà dù cho Triệu Nguyên Hạo không bãi binh, lấy thực lực của Phật tử, muốn đánh bại hắn cũng không phải là chuyện khó khăn gì.

Chỉ mấy câu này thôi mà bà ta đã dễ dàng hóa giải đòi hỏi của Bất Không, ngay cả Quách Tuân cũng có chút bội phục.

Hào quang trong mắt Bất Không thoáng hiện rồi biến mất. Hai tay hắn kết ấn nói:

– Vậy chuyện Ngũ Long thì sao?

Phía sau rèm, giọng nói của Lưu thái hậu có chút âm trầm:

– Ta muốn hỏi một câu, các ngươi làm sao biết Ngũ Long ở trong tay ta?

Bất Không mỉm cười.

– Trí tuệ của Phật tử có thể thông thần, từ lâu đã biết vật này nằm trong tay Thái Hậu. Thật ra thì viên Ngũ Long này vốn là vật của Phật tử, hoàng đế Chân Tông chỉ mượn tạm, bây giờ dùng đã nhiều năm rồi, cũng nên sớm trả lại?

Ngũ Long này cực kỳ thần bí. Lưu thái hậu không biết nhiều, giờ nghe Bất Không nói như thế thì trong lúc nhất thời không biết nên trả lời thế nào. Song bà ta thầm nghĩ, ‘bọn chúng yêu cầu Ngũ Long, chẳng lẽ…người hủy tượng phật không phải là bọn chúng sao? Nhưng trừ những tên Lạt Ma này ra, còn có ai cũng muốn đánh cắp Ngũ Long chứ?’

Quách Tuân đột nhiên nói:

– Tiên đế đã băng hà gần mười năm rồi.

Bất Không nói:

– Vị này là Điện tiền thị vệ Quách đại nhân Quách Tuân của Chân Tông năm đó sao?

Thấy Quách Tuân gật đầu, Bất Không nói:

– Chân Tông mặc dù đã khuất, nhưng vật mượn cũng nên trả lại, chẳng lẽ không đúng sao?

Quách Tuân hờ hững đáp:

– Vật mượn đương nhiên phải trả, nhưng nếu không phải mượn thì đương nhiên không cần phải trả lại. Tiên đế giữ Ngũ Long mười năm, băng hà gần mười năm, ta biết Phật tử bây giờ cũng chỉ khoảng ba mươi. Lẽ nào tiên đế lại đi mượn đồ của một đứa trẻ mới hơn mười tuổi thôi sao?

Bất Không mỉm cười đáp:

– Chuyện này vô cùng huyền diệu, khó mà nói chi tiết được. Nhưng ta nghĩ rằng dù cho Thái Hậu có vật này, chắc hẳn cũng không biết tác dụng của nó.

– Lẽ nào ngươi biết sao? Nếu không ngại, ngươi nói ra nghe xem. Nếu Thái Hậu thấy các ngươi thật sự cần dùng gấp, nói không chừng sẽ cho các ngươi mượn Ngũ Long một thời gian.

Quách Tuân ra vẻ thoải mái nói.

Ánh mắt Bất Không chợt lóe sáng, lát sau mới nói:

– Đó là vật của Thần. Phật tử sử dụng để kết nối với trời.

Lưu thái hậu không nhịn được quát:

– Nói bậy nói bạ!

Thái độ của bà ta uy nghiêm, giọng nói vốn luôn ôn hòa nhưng chẳng biết tại sao bây giờ lại đột nhiên giận dữ.

Bất Không thở dài nói:

– Nếu Thái Hậu không tin, thì cứ coi Ngũ Long vô dụng đi. Vậy thì hãy thương tình mà ban nó cho Phật tử chúng ta. Không biết ý của Thái Hậu ra sao?

Lưu thái hậu thoáng chút ngạc nhiên, bà ta không ngờ rằng Bất Không lại cung kính đến thế. Lần này Cổ Tư La đặc ý phái Bất Không đến đây muốn lấy Ngũ Long mà biểu hiện thì vừa cứng vừa mềm, xưa nay bà ta rất cơ mưu liền xác định trong đó tất có kỳ quái. Mặc dù không biết công dụng của Ngũ Long, nhưng bà ta nhất định không thể đưa cho bọn chúng! Năm đó tên ma quỷ kia từng nói, ở bên trong Ngũ Long có một bí mật rất lớn, ‘được nó được thiên…’ song hắn chưa nói hết câu thì đã chết rồi. Chẳng lẽ ý hắn là ‘được nó được thiên hạ’ sao? Nếu đúng là như vậy thì không thể để quả cầu đó lưu lạc bên ngoài. Còn nếu như hắn định nói ‘được nó được thiên thần tương kiến’(gặp được thần tiên) thì sao chứ? Vậy đúng là gặp quỷ rồi. Nghe nói Phật tử Cổ Tư La rất cơ trí, hắn khao khát Ngũ Long đến thế, nhất định là có bí mật kinh thiên ẩn giấu trong đó.

Tên ma quỷ trong suy nghĩ của Lưu thái hậu tất nhiên là Chân Tông Triệu Hằng đã băng hà. Đến bây giờ bà ta vẫn còn hận Triệu Hằng, mà vì sao lại hận thì chỉ có chính bà ta mới biết được!

Song phụ nữ đều như thế cả, thứ mà người ta càng muốn đoạt được thì họ lại càng muốn. Còn ngược lại thì họ cũng không muốn! Lưu thái hậu cũng là phụ nữ nên thái độ không khác gì. Trước đây đối với bà ta, Ngũ Long không quan trọng lắm, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Nhưng từ khi Ngũ Long bị trộm, bà ta liền cảm thấy không ổn, từ đó mới căn dặn Diệp Tri Thu tận lực tìm kiếm tung tích của Ngũ Long. Lần này thấy Bất Không cũng có hứng thú với Ngũ Long, bà ta càng thêm tò mò.

Nhưng hiện giờ Lưu thái hậu không giữ Ngũ Long nên không có cách nào ban cho. Bà ta trầm ngâm một lát rồi nhìn Quách Tuân hỏi:

– Quách khanh gia, ý của khanh thế nào?

Quách Tuân hiểu ý nghĩ của Thái Hậu, đột nhiên quay qua Bất Không nói:

– Sáng nay ta ăn cơm, còn thừa lại nửa bát.

Lưu thái hậu ngẩn ngơ, Bất Không cũng ngạc nhiên buột miệng hỏi:

– Vậy thì sao nào?

Quách Tuân chậm rãi nói:

– Cơm đặt trên bàn, ta không ăn không có nghĩa là ngươi có thể ăn. Muốn ăn nhiều hay ăn ít thì phải xem bản lãnh của ngươi!

Cung Trường Xuân bỗng dưng chìm trong nặng nề tĩnh lặng.

Hào quang trong mắt Bất Không lóe lên, hắn lạnh nhạt nói:

– Hóa ra Quách thị vệ muốn xem bản lãnh của tại hạ.

Nói xong, hắn chậm rãi bước tới gần Quách Tuân. Quách Tuân cũng bước lên phía trước một bước, khóe miệng nở nụ cười:

– Không dám.

Khoảng cách giữa hai người chỉ khoảng một trượng, lúc này không ai động chân nửa bước. Không khí trong cung Trường Xuân vốn ôn hoà như xuân đột nhiên trở nên lạnh lẽo như băng.

Lưu thái hậu rùng mình, vừa định gọi thị vệ vào cung hộ giá, đánh đuổi Bất Không ra ngoài, nhưng nghĩ lại nên thôi, bỏ đi ý định này. Bà ta biết Quách Tuân từ trước tới nay luôn thận trọng, giờ muốn ra tay thì nhất định là có lý do. Vả lại bà ta biết trước đây Quách Tuân là Ngự tiền thị vệ bên cạnh Triệu Hằng, võ công rất cao cường nên bà ta đặt niềm tin vào Quách Tuân.

Thế nhưng Quách Tuân vẫn không ra tay, chỉ nhìn Bất Không chằm chằm. Từ lúc Bất Không vào cung, hai tay không ngừng kết ấn, vào thời khắc này cả người hắn như bị đóng băng, không động đậy chút nào. Song môi hắn lại không ngừng mấp máy giống như đang niệm cái gì đó.

Thật lâu sau, hai người vẫn đứng bất động, bốn mắt nhìn nhau như đao kiếm giao nhau, ẩn chứa đốm lửa. Thái Hậu nhìn qua rèm châu, trong đầu đột nhiên có chút mê man. Bà ta giật mình kinh hãi, tay vung ra hất chén trà rơi xuống đất, “choang” một tiếng vỡ tan tành. Tiếng vang này phá vỡ bầu không khí ngưng trọng giữa Quách Tuân và Bất Không. Quách Tuân chậm rãi lui về phía sau một bước, lạnh nhạt nói: “Xem ra chén cơm này, cũng không dễ ăn.”

Khóe miệng Bất Không khẽ nở nụ cười, tiếp lời:

– Vậy lần sau ta nếu đến, nhất định sẽ đòi nữa.

Hắn bỗng xoay người sải bước rời đi, không thèm hỏi đến chuyện Ngũ Long nữa.

Lưu thái hậu ngạc nhiên hỏi:

– Quách Tuân, xảy ra chuyện gì?

Mắt Quách Tuân lộ ra vẻ suy tư trả lời:

– Thái Hậu cứ yên tâm, hắn sẽ không đòi hỏi Ngũ Long nữa đâu. Về việc tìm bí mật của Ngũ Long, thần sẽ làm tận lực.

Lưu thái hậu cảm thấy có chút mệt mỏi, khoát tay nói:

– Được rồi, việc này giao cho ngươi xử lý. Nếu có tin tức thì lập tức bẩm báo cho ta.

Bất Không mỉm cười sải bước ra khỏi cung Trường Xuân. Mọi người đều biết đây là sứ giả của Thổ Phiên nên không ai dám cản trở. Khi Bất Không ra khỏi hoàng cung thì kiệu đã chờ sẵn. Những Lạt Ma đứng đó kính cẩn lễ phép giống như thấy thần tiên vậy. Xung quanh không có ai khác, chỉ còn lại gió đao tuyết kiếm. Một cơn gió lạnh thổi qua, nụ cười trên mặt Bất Không chợt tắt. Sau một tiếng “oa”, hắn ụa ra một ngụm máu tươi.

Màu máu đỏ tươi, như hoa mai nở rộ. Cả đám Lạt Ma hoảng sợ, cùng hô lên: “Đại sư…”

Bất Không khoát khoát tay rồi bước lên kiệu. Hai mắt nhắm nghiền, hắn vô cùng mệt mỏi lẩm bẩm nói:

– Hay cho một tên Quách Tuân, không ngờ lại có bản lĩnh như vậy, lẽ nào?

Khóe miệng hắn thoáng nở nụ cười như có như không,

… nhưng kể từ bây giờ về sau… ngươi đừng có mong nghĩ đến thái bình nữa.

Địch Thanh quay về Quách phủ thì sắc trời đã tối. Hắn thất tha thất thểu quanh quẩn trên đường cổ Biện Kinh, người như ở trên mây. Hắn cũng không biết tại sao mình không muốn quay về, có lẽ là cảm thấy còn có thể gặp lại nàng ấy lần nữa. Nhưng cho đến lúc đèn hoa đã thắp, hắn rốt cuộc vẫn không gặp được nàng.

Đẩy mở cổng chính Quách phủ, Địch Thanh thở nhẹ một hơi, đột nhiên sau lưng có cơn gió mạnh thổi tới, Địch Thanh cả kinh quát lên:

– Ai đó?

Hắn vừa định xoay người thì có một bàn tay đặt lên vai, một giọng nói trầm thấp vang lên:

– Là huynh!

Địch Thanh không cần quay đầu lại cũng biết đây chính là giọng nói của Quách Tuân, hắn vui mừng nói:

– Quách đại ca, huynh đã về rồi?

Vừa quay đầu nhìn lại, hắn thấy sắc mặt Quách Tuân trắng bệch, Địch Thanh sợ hãi hỏi:

– Huynh làm sao thế? Bị thương ư?

Quách Tuân khoát khoát tay đoạn bước chầm chậm về phòng, sau đó lấy vò rượu ra uống ừng ực mấy ngụm, lúc này mới lẩm bẩm nói:

– Thật là lợi hại.

Địch Thanh vẫn một mực đi theo bên cạnh Quách Tuân, nghe vậy vội hỏi:

– Quách đại ca, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Huynh bị bệnh sao? Đệ đi tìm đại phu cho huynh!

Hắn vừa muốn xoay người liền bị Quách Tuân bắt lấy cổ tay.

– Huynh không sao. Hôm nay giao thủ với tên Phiên tăng kia.

Địch Thanh vô cùng kinh sợ.

– Huynh cũng không phải là đối thủ của gã ư?

Hắn thật không thể tin nổi, ngay cả năng lực của Quách Tuân mà cũng không thắng được tên Lạt Ma đó.

Quách Tuân trầm mặc một lúc.

– Ôi, khó nói lắm, nhưng hắn nhất định cũng không dễ chịu. Địch Thanh, tên Phiên tăng mà chúng ta nhìn thấy hôm nay tên là Bất Không, là một trong tam đại thần tăng dưới trướng của Thổ Phiên vương Cổ Tư La. Sau này đệ hãy cố mà tránh xa hắn.

Địch Thanh gật đầu nói:

– Quách đại ca, đệ nhớ kỹ rồi.

Trong lòng hắn thầm nhủ, ‘tên Phiên tăng này vì sao lại đối đầu với Quách đại ca? Quách đại ca bảo mình tránh xa gã, có lẽ là muốn tốt cho mình.’

Trong đầu Quách Tuân nghĩ đến Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, Bất Không chính là ba đại cao thủ thuộc hạ của Cổ Tư La. Chỉ mỗi tên Bất Không này mà đã có ý chí như vậy, không biết mấy tên còn lại thì sao đây? Cổ Tư La có phải càng thêm lợi hại hay không? Cao thủ Tạng Mật quả nhiên danh bất hư truyền.

Thì ra Quách Tuân dù chưa giao thủ với Bất Không nhưng so với đánh thật còn nguy hiểm hơn. Hai con ngươi của Bất Không như có một loại ma lực kì dị, quả thực có thể câu hồn đoạt phách. Gã dùng lực tinh thần từ hai con ngươi định khống chế Quách Tuân. Quách Tuân vốn đã nghe qua loại pháp môn này, hôm nay mới được nhìn thấy tận mắt. Ý chí của Quách Tuân từ lâu đã như sắt thép, lại thêm dày dạn trận mạc nên tuy biết rõ pháp môn của Bất Không nhưng vẫn ngưng thần đối kháng với Bất Không. Do đó Bất Không không thể khống chế được Quách Tuân, ngược lại lực tinh thần còn bị thương tổn. Gã địch không lại bèn rời đi, sau đó chịu không nổi phải phun ra một ngụm máu tươi. Tuy nhiên, Quách Tuân cũng cảm thấy tinh thần mệt mỏi đến nỗi ngay cả sức lực cũng không thể ngưng tụ được. Hắn thật sự hoảng sợ thần thông của kẻ này.

Thấy Địch Thanh rất quan tâm, Quách Tuân cười nói:

– Không có việc gì đâu. Đệ về nghỉ ngơi đi. Mấy ngày này huynh muốn tra một số chuyện, có thể sẽ ít gặp mặt đệ. Đúng rồi, bọn người Mã Quý Lương không phải là hạng người lương thiện đâu, đệ phải cẩn thận một chút.

Địch Thanh có chút lo lắng cho Quách Tuân, nghe vậy nói:

– Vâng, đệ hiểu!

Đợi Địch Thanh rời đi, Quách Tuân thở phào nhẹ nhõm, khuôn mặt dần dần có chút huyết sắc. Uống thêm vài chén rượu, gã nghĩ thầm: “Thái Hậu không biết bí mật của Ngũ Long nhưng Bất Không rõ ràng biết chút chuyện. Mình đánh bại Bất Không, hắn nhất định sẽ biết mình cũng có bí mật. Chính vì thế, có lẽ hắn sẽ tìm mình gây phiền phức… Quách Tuân khẽ thở dài, rút cây sáo từ trong ngực ra, nhìn ống sáo nói:

– Bất Không, ta sẽ chờ ngươi. Chuyện này đã khiến ta u sầu quá lâu rồi. Mai Tuyết, nàng cũng biết đấy, năm đó ta cũng là thân bất do kỷ(không thể tự làm chủ)? Nếu không tra ra chân tướng, ta thủy chung khó mà thoải mái được.

Sáo ngọc lành lạnh, dưới ánh đèn hiện ra lục quang, phản chiếu vào mặt Quách Tuân, thê lương như tuyết bay ngoài phòng…

Sáng sớm, sau khi Địch Thanh thức dậy, việc đầu tiên là đến vấn an Quách Tuân, nhưng lại phát hiện Quách Tuân đã đi khỏi. Địch Thanh nhớ tới sắc mặt của Quách Tuân vào tối hôm qua liền không khỏi lo lắng vội đi tìm Quách Quỳ để hỏi. Ai ngờ, nó thậm chí còn không biết Quách Tuân từng quay về.

Địch Thanh không biết làm sao, đành quyết định trước hết cần phải đi đến cấm quân doanh. Đám người Kiêu Vũ quân nhìn thấy Địch Thanh thì hoan hô liên hồi. Nhưng Triệu Luật lại sầm mặt xuống nói:

– Địch Thanh, ngươi chẳng những quậy phá gây nên rắc rối mà còn mạo danh phủ Khai Phong, Quách chỉ huy có lệnh, phạt ngươi ba tháng bổng lộc để cảnh cáo.

Mọi người thầm bất bình. Địch Thanh biết Quách Tuân làm vậy là muốn dàn xếp ổn thỏa nên yên lặng chấp nhận. Chịu thiệt có lúc chính là chiếm tiện nghi, Địch Thanh chịu thiệt thòi lần này, nếu có thể bảo vệ được tính mạng thì cũng coi như chiếm tiện nghi rồi. Mặc dù Triệu Luật ra vẻ lạnh nhạt nhưng vẫn phân công Địch Thanh chung tổ với Trương Ngọc và Lý Vũ Hanh.

Mấy ngày nữa chính là đại lễ tế tự, cấm quân trong kinh tất nhiên phải toàn lực cảnh giới. Ba người Địch Thanh được phái đến tuần tra khu vực gần sông Ngũ Trượng. Ba người cười cười nói nói đi đến phụ cận sông Ngũ Trượng. Thiên hạ thái bình vô sự đã mấy chục năm, triều đình nuôi nhiều cấm quân như vậy chỉ vì phòng ngừa vạn nhất, nói là tuần tra chứ thật ra thì cũng không có quá nhiều chuyện để làm. Mấy người tìm một chỗ khuất gió núp vào, ôm vai, co chân lại. Địch Thanh ngẩng đầu nhìn trời, thấy bóng chim giữa không trung bay lướt qua thì đột nhiên tới một chuyện, hỏi:

– Trương Ngọc, ngươi là người phương nam, vậy có từng nghe qua loài chim nào tên là Hồng Chủy Ngọc chưa?

Trương Ngọc nói:

– Đương nhiên là nghe qua rồi. Loài chim này rất đẹp, lúc ta còn nhỏ, còn bắt một con để nuôi. Có điều sau này ta lại thả nó đi.

– Sao vậy?

Địch Thanh khó hiểu hỏi.

Trương Ngọc buồn bã nói:

– Vì khi ta bắt nó nhốt trong lồng, có một con chim khác không sợ nguy hiểm, hàng ngày ở ngoài lồng thương xót hót than và không ngừng đâm vào lồng chim. Khi đó ta rất ngạc nhiên. Mẹ ta nói cho ta biết, loài chim này cực kỳ trọng tình, hai con chim mái và trống phần lớn thời gian đều như hình với bóng, cực kỳ hết lòng với nhau. Nếu một con bị bắt, con kia dù gặp ngàn vạn nguy nan đi chăng nữa cũng sẽ cố gắng tìm biện pháp đoàn tụ.

Lý Vũ Hanh tấm tắc nói:

– Như vậy thì chẳng phải loài chim này còn trung nghĩa hơn con người sao?

Trương Ngọc thở dài:

– Ôi, ai nói không phải chứ? Sau khi ta thả nó đi, cha ta qua đời. Chưa tới mấy năm sau, mẹ ta cũng đi nốt, ta nghĩ … họ cũng giống như Hồng Chủy Ngọc.

Địch Thanh nghĩ đến mẫu thân của mình, trong lòng cũng không khỏi cảm thấy chua xót.

Tuyết đọng trên người Trương Ngọc khiến hắn run lẩy bẩy, thở dài một hơi nói:

– Đúng rồi, còn quên nói cho ngươi biết, vì Hồng Chủy Ngọc có tính cách này nên chúng ta đặt cho nó thêm một cái tên khác, gọi là chim tương tư.

Nói xong hắn vỗ vỗ tay, khẽ ngâm:

Bước vào lối ấy tình say.

Mới hay nổi đắng niềm cay ơi người.

Nhớ thương thương nhớ theo hoài.

Tương tư nổi ấy vắn dài nông sâu!

Lý Vũ Hanh ở bên cạnh nói:

– Trương Ngọc à, không ngờ tới cái thứ như ngươi, ngoại trừ đánh rắm ra, còn biết làm thơ con cóc nữa đó.

Trương Ngọc nói:

– Cấm quân không đáng sợ, chỉ sợ cấm quân nói nhảm. Đây là thơ Đường do đại thi nhân Lý Bạch sáng tác, vậy mà ngươi lại nói nó là thơ con cóc? Năm đó sau khi cha ta chết, mẹ ta lúc nào cũng đọc bài thơ này cho ta nghe, thế nên ta học thuộc được. Lúc đó chẳng hiểu nỗi khổ đó, bây giờ hiểu thì đã muộn.

Dứt lời khóe mắt nhòe lệ.

Địch Thanh nghe vậy thì nhớ tới đại ca thường nói: “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn dưỡng mà cha mẹ không còn”, mới hiểu được tâm tình của Trương Ngọc nên an ủi:

– Trương Ngọc, ngươi đừng buồn nữa, thực ra cha mẹ chỉ cần biết chúng ta đang sống rất tốt, họ đã cảm thấy hài lòng lắm rồi.

Lúc này tuyết lớn ngừng lại, ba người chìm trong trầm mặc, mỗi người đều có tâm sự.

Sau khi kết thúc công việc, Địch Thanh không lập tức trở về nhà mà đi đến nơi lúc trước nhặt diều, cái ngõ hẻm này gọi là ngõ Mạch Kiết.

Hoàng hôn tuyết lạnh, trong ngõ hẻm đã không còn ai qua lại. Địch Thanh giống như cô hồn dã quỷ đi từ đầu này đến đầu kia ngõ hẻm, rồi lại từ đầu kia quay lại đầu này. Hắn không biết đã đi qua đi lại bao nhiêu lần nhưng vẫn không thấy con diều ấy bay lên. Địch Thanh thầm cười nhạo suy nghĩ hão huyền của mình rồi ngượng ngùng trở về chỗ ở. Đến lúc này vẫn không gặp được Quách Tuân.

Quách Quỳ vẫn vô tư, chỉ nói ban ngày đại ca có trở về một lần nhưng lại vội vã rời đi, giống như có việc gấp. Địch Thanh biết được Quách Tuân không có việc gì, cũng bớt lo lắng. Hắn ngây người ngồi trên giường, cả đêm chỉ suy nghĩ về việc nàng thả diều trong ngày tuyết, trên thân diều có vẽ chim tương tư, rốt cuộc là có ý gì?

Không biết qua bao lâu, Địch Thanh đột nhiên nghĩ, ‘mình nhung nhớ nàng đến mức thần hồn điên đảo phải chăng là tự cho rằng nàng ấy đang tương tư mình? Hắn bỗng bật cười thầm nghĩ mình sẽ không phải là tự đa tình như vậy đi. Nhưng nếu không phải như thế thì cớ gì mình lại như bị ma xui quỷ khiến đi tới chỗ đó?’

Địch Thanh bất chợt phát hiện trên bàn có một chiếc khăn lụa, là chiếc khăn mà cô gái ấy để lại. Hắn tự biện bạch, ‘có lẽ là mình muốn trả lại chiếc khăn lụa này, chứ không có ý khác. Nhưng mà lúc hoàng hôn, khi đi đến nơi đó, mình cũng không có nhớ tới khăn lụa.

Địch Thanh ngồi ở trên giường suy tính hơn thiệt rồi ngủ say lúc nào không biết. Sáng sớm tỉnh lại, trong đầu không có hồng long, chỉ có một chiếc khăn lụa xanh thẩm tung bay trong đầu.

Hôm sau khi xong ca trực, Địch Thanh lại vô thức mà đi đến ngõ Mạch Kiết. Nhưng rốt cuộc cũng không thấy con diều bay lên.

Vào ngày thứ ba, gió cuồng tuyết lạnh, Địch Thanh thầm nhủ sẽ không có ai chơi diều trong thời tiết như thế này, đừng đến đó nữa. Nhưng rồi sau khi xong ca trực, dù cho gió cắt da, tuyết lạnh lẽo hắn vẫn không cầm lòng được mà đi đến trước ngõ Mạch Kiết.

Không có diều, chỉ có gió lớn. Địch Thanh hứng gió Tây Bắc cả buổi, khi trở về thì đông cứng giống như cột băng vậy. Núp ở trong chăn sưởi ấm, Địch Thanh tức giận nói: “Ngày mai nếu nổi gió thì chết sống gì cũng không đi. Địch Thanh à, ngươi tự mình đa tình, cả đời này cũng không thể gặp lại nàng nữa đâu. Ngươi là cái thá gì chứ, chỉ lấy giùm nàng con diều, chẳng lẽ còn muốn trả thù lao sao?

Mơ màng thiếp đi, sáng sớm tỉnh lại, tuyết ngừng trời trong.

Địch Thanh nhìn bầu trời quang đãng lạnh giá không khỏi thầm nghĩ, đây chẳng phải là thời tiết tốt để chơi diều sao? Hôm nay đúng lúc không trực ban, Địch Thanh đứng dậy đến ngõ Mạch Kiết thêm lần nữ. Hắn dựa vào tường hẻm, đứng chờ từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn…

Ngay cả một bóng người cũng không thấy.

Gió bắc nổi lên, tuyết bay tán loạn, Địch Thanh rụt cổ lại nhìn cây dương thụ nằm ở trong tường hẻm. Dương thụ trụi lủi, bám đầy tuyết, cây và người nhìn nhau trân trân. Thỉnh thoảng có một cơn gió thổi qua, tuyết đọng trên cây rớt xuống xào xào xoạt xoạt, Địch Thanh vươn tay ra, ngắm nhìn những bông tuyết rơi xuống trên tay, hóa thành từng hạt nước.

Trời tuy lạnh nhưng lòng ấm. Tình dù mông lung nhưng nồng cháy.

Mặt trời chiều đã lặn, ánh tà dương tan hết, màn đêm bắt đầu bao trùm thành Khai Phong cổ kính. Địch Thanh rung mình rũ tuyết đọng trên người rồi xoay mình đi về phía đầu hẻm. Chợt vang lên âm thanh ‘loẹt xoẹt, loẹt xoẹt’, là tiếng bước chân mang theo bông tuyết hiu quạnh, âm thanh đó đến đầu ngõ thì ngừng bặt.

Nơi đầu ngõ, có hương mai thoang thoảng, cành mai vươn ngang. Địch Thanh đứng ở nơi đây không phải vì mai, khuôn mặt tê dại vì lạnh của hắn đột nhiên rạng rỡ khó tả. Đầu kia ngõ hẻm, một người con gái giống như tuyết mai thanh tịnh đang đứng ở nơi đó ngóng nhìn Địch Thanh. Trong đôi mắt màu mực thủy mặc xanh đỏ này lung linh nước mắt, giống như băng chưa tan trong làn nước xanh khi mùa xuân tới.

Cuối cùng cũng gặp được người con gái trong mộng, Địch Thanh đột nhiên cảm thấy ông trời đối xử với mình không tệ. Để có thời khắc này, không biết hắn đã đợi bao lâu rồi. Nhưng đúng vào lúc này, hắn mới phát hiện ra mình không có lời gì để nói. Hắn chỉ là tên cấm quân tầm thường, mà nàng…

Đang chìm trong suy nghĩ miên man, Địch Thanh chợt phát hiện cô gái khẽ run rẩy trong gió. Cuối cùng, hắn bước nhanh đi tới, cố lấy dũng khí nói:

– Cô… thật trùng hợp, lại có thể gặp được cô.

Địch Thanh có chút xấu hổ, hắn biết trên đời này trùng hợp đa phần đều là từ cố ý.

Cô gái thản nhiên cười một tiếng:

– Đúng là trùng hợp.

– Hôm nay không chơi diều sao?

– Hôm nay không phải ngày thả diều.

Cô gái ho nhẹ hai cái.

Lúc này Địch Thanh mới phát hiện hai má nàng ửng đỏ, ân cần hỏi:

– Cô cảm lạnh à?

Cô gái nói:

– Mấy ngày hôm trước thả diều, bị cảm lạnh cho nên mấy ngày nay không tới.

Địch Thanh hoảng hốt trong lòng, dù không muốn nhưng lại không thể không nói:

– Vậy mau mau trở về đi, ở đây lạnh lắm.

Cô gái kéo kín áo lông trắng trên người, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời rồi đột nhiên nhảy lên hai cái. Địch Thanh không hiểu ý nàng, chỉ cảm thấy như có một đóa hoa xoay múa trong tuyết.

– Mẹ nói cho muội biết, nếu như cảm thấy lạnh, phải vận động vài cái.

Cô gái khẽ cười, nụ cười này giống như trăng sáng.

Địch Thanh cười nói:

– Đúng vậy.

Bây giờ, hắn mới phát hiện mình cũng bị lạnh đến run rẩy. Hắn lắc trái lắc phải dậm chân rồi nói:

– Bọn huynh cả ngày chạy quanh kinh thành, nếu như cảm thấy lạnh thì hãy dậm chân một cái, nếu chân không lạnh thì người sẽ không lạnh.

Cô gái đột nhiên che miệng cười khúc khích.

Địch Thanh ngẩn ngơ hỏi:

– Cô cười gì thế?

Cô gái nói:

– Muội thấy huynh lắc lư dậm chân giống như là một con cua lớn. Muội thích ăn nhất là cua ở đông thành Biện Kinh.

Nàng nhịn không được cười ngặt nghẽo.

Địch Thanh rất bối rối nhưng trong lòng lại thấy vui sướng.

Cô gái cười xong, dùng sức dậm chân một cái, hành động ngây thơ hồn nhiên không thể tả. Sau một lúc lâu, nàng vui vẻ nói:

– Huynh nói rất đúng. Muội cũng biến thành con cua rồi, giống huynh…

Đột nhiên nàng thẹn thùng cúi đầu không nói, chỉ dùng mũi chân vẽ lên mặt tuyết.

Địch Thanh nhìn say sưa, thầm nghĩ: ‘Giống nàng sao? Giống nàng là một cặp cua sao?’ Tuy đoán như vậy, nhưng làm sao dám mạo phạm giai nhân?

Không biết qua bao lâu, cô gái lại cười hỏi:

– Địch Thanh, vì sao huynh nhập ngũ?

Địch Thanh thấy cô gái thoải mái không câu thúc, bản thân cũng dần dần không còn bất an, hắn đáp:

– Nói ra rất dài dòng…

– Kể cho muội nghe đi.

Cô gái mỉm cười nói.

Địch Thanh thấy trong đôi mắt nàng như hàm chứa cái gì đó, cũng tuyệt không có ý rời đi, đành phải nói:

– Trước đây huynh vốn không muốn nhập ngũ. Nhưng trên đời không phải mình muốn làm cái gì thì làm được cái đó…” Sau khi kể ra chuyện trước đây, hắn đột nhiên cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Tất nhiên là rất nhiều chuyện đều được lược bớt đi. Kể đến lúc bắt Triệu công tử hắn chỉ nói là may mắn, lúc ấy bị bức bách không biết làm sao nên đành phải tòng quân.

Cô gái lẳng lặng lắng nghe. Sau khi nghe xong, nàng cảm thấy lạnh giá liền dậm chân nói:

– Thì ra là thế! Theo muội thấy, huynh không giống với bọn họ.

Địch Thanh khẽ run, hỏi:

– Có gì không giống chứ?

Trong trời tuyết, vẻ mặt cô gái như uống rượu say. Chợt nghĩ đến gì đó, nàng ngẩng đầu nhìn trời rồi kinh hãi kêu lên:

– Trời ơi, muộn rồi. Muội phải về thôi, nếu không thì cha sẽ quở trách.

Vừa dứt lời, nàng xoay người chạy đi, trong đất tuyết trông nhẹ nhàng như thỏ ngọc.

Địch Thanh đột nhiên nhớ tới còn chưa có hỏi tên nàng, vừa muốn cất tiếng hỏi thì cô gái đã hòa vào trong bóng tối. Địch Thanh có chút lo lắng, sợ rằng nàng đi một mình sẽ xảy ra chuyện nên lặng lẽ đi theo. Nhìn bóng dáng yểu điệu ấy đi vào cửa son cho đến khi không còn thấy bóng dáng nữa, lúc này hắn mới yên lòng.

Trên đường quay về, Địch Thanh cảm thấy người nhẹ như yến, vui sướng vô hạn.

Sáng sớm ngày tiếp theo, Địch Thanh đến cấm quân doanh sớm rồi cùng Trương Ngọc và Lý Vũ Hanh đến phụ cận sông Kim Thủy tuần tra.

Địch Thanh dào dạt tâm sự, chỉ mong mặt trời như sao băng mau lặn xuống để hắn có thể báo cáo kết quả nhiệm vụ rồi đến ngõ Mạch Kiết. Mặc dù không chắc chắn rằng nàng có thể đến được hay không, nhưng bây giờ mỗi ngày nếu hắn không đến nơi đó đảo qua một vòng thì buổi tối sẽ cảm thấy ngủ không ngon.

Thấy sông Kim Thủy uốn lượn về hướng đông, tuyết phủ trắng xóa, nhìn như rồng bay, Địch Thanh bỗng nghĩ đến hồng long, trong lòng thoáng rung động. Đồng thời hắn cũng có chút kỳ quái, mấy ngày nay sao hồng long không xuất hiện nữa nhỉ?

Trong lúc suy tư, Địch Thanh nghe Lý Vũ Hanh nói với Trương Ngọc:

– Trương Ngọc, ngươi có biết gần đây kinh thành xảy ra chuyện lớn không?

Trời tuyết mà phải đi trực, có thể nói là khổ không thể tả, nếu không tán phét mấy câu thì quả thực rất nhàm chán. Trương Ngọc thuận miệng hỏi:

– Ngươi thì biết cái rắm gì chứ?

Lý Vũ Hanh than thở:

– Nghe nói Phạm Trọng Yêm bị cách chức đuổi khỏi kinh thành rồi.

Địch Thanh phục hồi lại tinh thần, trong lòng chấn động. Hắn nhớ lại đôi mắt giàu tình cảm ấy, khuôn mặt thương tâm ấy. Phạm Trọng Yêm quả nhiên bị cách chức rồi, kết cục này đã sớm định trước. Nhưng chỉ có loại người như thế mới dám làm những chuyện đã biết rõ kết cục! Địch Thanh nhìn băng tuyết trên sông Kim Thủy, cảm thấy rất lạnh.

Trương Ngọc khịt mũi khinh bỉ nói:

– Ngươi coi chuyện này là chuyện lớn ư? Ta còn biết ngoại trừ Phạm Trọng Yêm bị cách chức ra, còn có Hàn Lâm học sĩ Tống Thụ đấy. Hai người này đều khuyên Thái Hậu giao quyền cho thiên tử, kết quả đều bị Thái Hậu giáng chức đuổi khỏi kinh thành.

Địch Thanh bỗng nhớ tới Quách Tuân từng nói: “Thái Hậu muốn làm hoàng đế!” Không nhịn được kéo chặt cổ áo.

Trương Ngọc nói tiếp:

– Thái Hậu muốn làm hoàng đế!

Lý Vũ Hanh vừa kinh vừa sợ, vội hỏi:

– Trương Ngọc, đừng nói bừa.

Trương Ngọc hừ lạnh nói:

– Ta không nói bừa, Thái Hậu không ngừng trục xuất thần tử trung thành với họ Triệu ra khỏi kinh thành, chính là muốn làm hoàng đế.

Không có ai lên tiếng đáp lời. Trong không khí vô cùng lạnh lẽo, Địch Thanh nhịn không được thầm nghĩ, ‘thiên tử là con trai của Thái Hậu, Thái Hậu muốn làm hoàng đế, vậy xử lý thiên tử ra sao đây?’ Địch Thanh chỉ thoáng nghĩ trong đầu rồi nở nụ cười nhạt tiếp tục ngắm băng tuyết trên sông Kim Thủy. Hắn chỉ là tên cấm quân nho nhỏ, loại chuyện như vậy chỉ suy nghĩ thôi cũng là dư thừa. Một người có phiền não, thông thường không phải suy nghĩ quá ít mà vì suy nghĩ quá nhiều.

Gần đến hoàng hôn, Địch Thanh cầm lòng không được. Hắn vừa định cùng Trương Ngọc, Lý Vũ Hanh quay về báo cáo kết quả nhiệm vụ thì bất chợt thấy xa xa có mấy người đi tới. Người dẫn đầu mặt ngăm đen, khuôn mặt góc cạnh giống như miếng sắt, chính là bộ đầu Khâu Minh Hào của phủ Khai Phong.

Mấy năm nay phủ Khai Phong ngoại trừ bộ đầu Vương Lâm Tông ra còn có mấy người tài giỏi khác. Trong số đó, hai người Diệp Tri Thu, Khâu Minh Hào bởi vì phá án xuất sắc, nên được người kinh thành ca tụng là “Nhất Diệp Tri Thu, Minh Sát Thu Hào.”

Diệp Tri Thu như kiếm, Khâu Minh Hào thoạt nhìn như tấm chắn, một tấm chắn bằng sắt!

Đi theo phía sau Khâu Minh Hào là một người thanh niên ngạo mạn, con mắt giống như mọc ở trên trán vậy. Địch Thanh nhận ra đó là Hạ Tùy, là con trai của Tam Nha – Mã quân đô chỉ huy sứ Hạ Thủ Uân. Hiện nay gã là một Chỉ huy sứ của Kiêu Kỵ quân.

Kiêu Kỵ quân và Kiêu Vũ quân đều chịu sự chỉ huy của Thị vệ Mã Quân Ti trong Tam Nha. Nói cách khác, cho dù là Quách Tuân cũng phải nghe lệnh của Hạ Thủ Uân. Hạ Tùy có người cha làm to nên cũng có thể chỉ huy bọn người Địch Thanh. Hiện giờ hắn đang ngạo mạn nói:

– Tuần tra phụ cận cầu Bạch Hổ ở sông Kim Thủy là ba người các ngươi sao?

Trương Ngọc có cấp quan cao nhất trong ba người liền đáp:

– Trừ ba người chúng tôi ra, cầu Bạch Hổ còn có nhóm Quân Đầu – Lý Giản trông coi.

Hạ Tùy gật đầu nói:

– Nếu như vậy thì cầu Bạch Hổ giao cho nhóm Lý Giản phụ trách đi, ba người các ngươi đi theo ta.

Ba người Trương Ngọc rất kinh ngạc, nhưng không thể làm gì khác hơn là phải nghe theo lệnh điều động. Họ đi theo sau Hạ Tùy mà không biết phải làm cái gì. Địch Thanh ngầm nhíu mày, thầm nghĩ ‘nếu là người xui xẻo, uống nước nguội cũng tê răng’. Hắn vốn định đi ngõ Mạch Kiết, không nghĩ tới lại có việc phải làm.

Hạ Tùy cũng không nhiều lời, dẫn đám người đi thẳng về hướng nam. Đôi mắt Khâu Minh Hào như điện cảnh giác chú ý động tĩnh xung quanh. Vẻ mặt hai người này đều thận trọng như gặp đại địch. Đám người theo cầu Bạch Hổ xuôi nam, đi qua Đại Phật Tự rồi qua cửa bắc, sau đó lại vòng qua cửa hàng vàng bạc Vương gia một vòng.

Địch Thanh nhìn mặt trời sắp lặn ở phía tây, màn đêm lờ mờ phủ xuống, trong lòng lo lắng. Lúc này chợt nghe Hạ Tùy thấp giọng nói:

– Bọn chúng có lẽ ẩn nấp ở nơi này.

Khâu Minh Hào cũng hạ thấp giọng nói:

– Đúng vậy, trước mắt đừng rút dây động rừng, không bằng điều tra rõ ràng rồi tính tiếp.

Địch Thanh nghe thấy lời của Hạ Tùy và Khâu Minh Hào, nhưng không hiểu ý nghĩa, chỉ láng máng biết hai người này chắc là đang tìm ai đó. Hắn vô tình phải đi bắt trộm, trong lòng sớm đã mắng chửi khôn thôi. Ngẩng đầu nhìn sắc trời, Địch Thanh thấy rất nhiều cửa hàng đã lên đèn, cả con đường cầu Kim Lương như cả trời sao sà xuống, rực rỡ vô cùng. Hắn nghĩ, ‘hôm nay nàng có đến ngõ Mạch Kiết hay không?’

Thật không dễ dàng mới chờ được đến lúc Hạ Tùy nói:

– Hôm nay tạm đến đây thôi, chư vị vất vả rồi, về nghỉ ngơi đi.

Địch Thanh vội vàng cáo từ rời đi. Trương Ngọc liếc nhìn Hạ Tùy, nhìn thấy sắc mặt gã âm trầm đang nhìn theo bóng lưng của Địch Thanh, không khỏi rùng mình một cái…

Chương 12 : Chém giết

Tuyết đã ngừng, gió thêm lạnh. Gió thổi vào người, buốt lạnh thấu xương.

Địch Thanh chạy một mạch từ cầu Kim Lương thẳng đến ngõ Mạch Kiết. Ngõ Mạch Kiết cách cầu Kim Lương rất xa. Hắn chạy cấp tốc gần nửa canh giờ, toát mồ hôi trán, lại nghỉ ngơi thêm hai lần nữa mới đến được đầu ngõ Mạch Kiết.

Trăng sáng treo cao, ngõ Mạch Kiết yên ắng đến nỗi ngay cả bóng quỷ cũng không thấy. Địch Thanh há miệng thở hổn hển, hơi thở lạnh giá phả vào không khí ngưng tụ thành khí sương, nó cũng biểu thị cho nỗi mất mác trong lòng Địch Thanh. Địch Thanh thở dài tiếc nuối rồi ngồi xuống nhìn bụi hoa mai ở góc tường, bóng cây nghiêng nghiêng, hoa mai rung động, mùi hương quanh quẩn nơi đây, đoạn lẩm bẩm nói:

– Huynh có việc nên đến trễ, xin lỗi muội.

Mặc dù không có hẹn ước gì với cô gái, nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt nàng thì Địch Thanh đã thấy rằng, không cần phải hẹn ước, nàng tới cũng được, không tới cũng chẳng sao, hắn lúc nào cũng đợi nàng!

Địch Thanh ngồi trên mặt tuyết một lúc lâu rồi mệt mỏi đứng dậy. Hắn nhìn thấy dưới hoa mai có vài cánh hoa màu hồng. Trong lòng chợt động, hắn chậm rãi bước tới. Bên cạnh cánh hoa có lưu lại một dãy dấu chân hẹp, dường như đây là dấu chân nhỏ nhắn của cô gái để lại. Địch Thanh nhìn theo dấu chân thì phát hiện phương hướng dấu chân rời đi và đây cũng chính là phương hướng mà nàng rời khỏi khi đó, trong lòng hắn không khỏi thốt lên: “Là nàng, là nàng! Rõ ràng nàng đã tới đây.” Địch Thanh men theo dấu chân tìm kiếm thì thấy dấu chân này kéo dài đến trước cửa son rồi dừng lại, trong sự mừng rỡ xen lẫn một chút thất vọng. Vui là vì nàng vẫn còn nhớ tới mình, nàng đến đây chắc là tìm mình. Thất vọng là vì hắn bận chuyện nên không thể đến đây đúng hẹn.

Ở trước cửa son chần chừ thật lâu, cho đến khi sắc trời tối sẫm, Địch Thanh vẫn không có can đảm đi gõ cửa. Hắn lại men theo dấu chân quay trở về chỗ cũ. Lúc đi theo, do tâm tình kích động nên không lưu ý. Lúc quay lại, Địch Thanh mới phát hiện dấu chân ấy không hoàn chỉnh, chỉ có vết mũi chân. Hắn thầm nhủ: “Sao nàng phải đi kiểu như thế nhỉ?” Ban đầu mới gặp, nàng xinh đẹp rụt rè nho nhã, lần gặp mặt gần đây nhất thì lại thấy nàng ngây thơ chân chất. Khi đó nàng còn nhảy mấy cái để đỡ lạnh. A! Chắc là nàng vui vẻ nên mới nhảy nhót tung tăng quay về. Vừa nghĩ đến đây, hắn cảm thấy hạnh phúc trào dâng trong lòng. Nhưng ngẫm lại, suy đoán này của mình chưa chắc đúng. Nàng không gặp được mình, sao lại vui mừng chứ? Chẳng lẽ mình đáng ghét đến thế sao? Trời lạnh đường trơn, nói không chừng nàng không cẩn thận, bị té ngã hoặc là bị trật chân nên mới dùng mũi chân nhón nhón quay về. Vừa nghĩ đến đây, con tim hắn liền nhói đau, trong lòng lo sợ bất an. Hắn quay về phía cửa son một lần nữa, chú ý quan sát dấu chân ấy. Hắn bỗng nhìn thấy chỗ có nửa cái dấu chân, chúng hơi rộng so với nhịp bước bình thường, chợt nghĩ: “Không phải là bị thương. Đây là dấu chân nhảy lên, nếu như bị thương thì nhịp bước của dấu chân này phải nhỏ hơn bình thường mới phải.”

Địch Thanh nghĩ tới đây, lại quay trở về chỗ cũ. Nhưng lòng không yên, hắn vừa đi vừa dán mắt nhìn dấu chân của cô gái, ngay cả dẫm lên cũng không nỡ. Hắn đi một mạch đến nơi mấy cành mai thì lại lưỡng lự không đi. Hắn bỗng nhìn thấy vết chân dưới cành mai cũng hỗn loạn, thầm nhủ: ‘Đúng rồi, chắc là nàng cảm thấy lạnh nên đi loanh quanh đợi ở đây. Trời ơi, đáng ra mình không nên để nàng chờ.’

Địch Thanh ngồi xổm xuống xem xét lại dấu chân, đột nhiên ánh mắt đanh lại. Hắn cảm thấy cánh hoa trên đất tuyết có chút khác thường. Mượn ánh trăng mờ mờ, Địch Thanh mới phát hiện được một điều rằng những cánh hoa này xếp thành hình mũi tên chỉ về một hướng, đầu cuối của mũi tên có viết mấy chữ. Kí hiệu này vốn dĩ rất rõ, nhưng trong lúc lòng rối như tơ vò, Địch Thanh hoàn toàn không chú ý tới. Bây giờ nhìn thấy ký hiệu này, tim hắn đập thình thịch. Hắn biết đây chắc là chữ mà cô gái kia lưu lại. Nhưng rốt cuộc viết cái gì?

Địch Thanh nhìn chăm chăm vào tám chữ được viết trên mặt tuyết: “Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung”.

(Thảo trùng: loại côn trùng sống núp trong bụi cỏ, như dế.)

Địch Thanh biết chữ chẳng ít, nhưng cũng không nhiều, trong tám chữ này có đến sáu chữ hắn không biết! Hai chữ duy nhất hắn có thể biết đó là ‘thảo trùng”, nhưng những chữ này có nghĩa gì?

Địch Thanh nhìn thật lâu. Hắn nghĩ rằng nàng nói hắn đáng ghét như thảo trùng sao? Nhưng thảo trùng cũng không hoàn toàn đáng ghét, cũng có một số côn trùng đáng yêu đấy. Nhưng cuối cùng hắn lại cảm thấy khó mà tự bào chữa, đa số côn trùng không phải đều đáng ghét sao? Rồi ‘yêu yêu’ này thì có nghĩa gì? À, có lẽ là nàng muốn mình bắt thảo trùng cho nàng, vì thế mới viết chữ ‘yêu’ này, nhưng vì sao có tới hai chữ ‘yêu’ và phía trước có thêm chữ ‘khẩu’ là sao chứ? Chắc là nàng thúc giục mình, bảo mình mau mau tìm thảo trùng? Chỉ có điều mùa này tuyết lạnh đất đông, ở đâu mới có thảo trùng đây? Mà nàng muốn thảo trùng làm gì kia chứ? Địch Thanh nghĩ đến đây, cứ cảm thấy lời giải thích của mình quá gượng ép. Hắn nhìn bốn chữ “địch địch phụ chung” ở phía sau, càng thêm mờ mịt khó hiểu. Hắn nghĩ: ‘Chữ cuối gồm chữ ‘mùa đông’ và hai chữ ‘côn trùng’ ghép lại với nhau, nếu vậy thì suy đoán khi nãy của mình có lẽ đúng, nàng muốn một loài côn trùng vào mùa đông. Côn trùng vào mùa đông? Than ôi, trời đông như thế này, rốt cuộc đi đâu tìm loại côn trùng đó đây?’

(喓(yêu/liu riu)= 口(khẩu)+ 要(yêu/muốn)

螽(chung)=冬(mùa đông)+虫(côn trùng))

Địch Thanh suy đoán cả buổi mà vẫn không có kết quả, cuối cùng cảm thấy có lẽ nên tìm người có học vấn hỏi thử. Hắn rút bội đao ra định chặt cành mai xuống để khắc mấy chữ này lên, nhưng ngẫm lại ‘nàng thích cành mai này, nếu mình chặt đi thì không còn để cho nàng ngắm nữa!’

(Bội dao: đao đeo ở bên hông)

Do dự một lúc, Địch Thanh chợt nảy ra một ý. Hắn bèn cởi giày, kiễng chân lên, lấy mũi đao khắc tám chữ này vào đế giày. Sau khi so sánh một lúc và xác nhận không sai thì hắn mới mang giày vào. Hắn tiếp tục ở lại một lúc lâu, chờ đến khi nàng trăng cũng đã ngủ. Lúc này hắn mới chịu quay về.

Khi về tới Quách phủ thì đêm đã khuya. Địch Thanh trằn trọc cả đêm, khó mà ngon giấc. Trời vừa ửng sáng, hắn đã vội vàng thức dậy đi ra ngoài. Chợt cảm thấy ngực mình hơi đau, hắn đưa tay sờ thì phát hiện cơn đau này là do hắc cầu cấn vào ngực gây nên.

Hắc cầu tuy quỷ dị nhưng đã lâu rồi không hiển linh, do đó Địch Thanh không còn lòng dạ nào để ý tới nó. Hắn vội vàng đi tìm Quách Quỳ. Quách Quỳ vẫn còn đang ngủ say. Địch Thanh không tiện đánh thức nó. Hắn bỗng nảy ra một ý, bèn ở trong sân múa quyền pháp vù vù.

Từ khi Địch Thanh đến Biện Kinh tới nay, Quách Tuân hết lòng truyền thụ võ công cho hắn. Địch Thanh không nỡ làm Quách Tuân thất vọng nên mọi chiêu thức đều cố gắng nhớ kỹ. Song vì vận lực khó khăn nên thường ngày ít luyện tập. Lúc này, hắn nổi lòng hứng thú, từng quyền từng quyền nối đuôi nhau được đánh ra, mạnh mẽ như hổ. Địch Thanh đánh đến hưng phấn thì thò tay rút đao ra múa thêm một hồi. Địch Thanh cảm nhận được khí lực trong cơ thể bây giờ rất sung mãn, đánh đến tận hứng, hắn hét to một tiếng, phóng trường đao bay vèo tới cắm mạnh vào gốc cây liễu phía đối diện vang lên một tiếng “rắc”.

Địch Thanh ném đơn đao xong đột nhiên cảm thấy kinh ngạc, thầm nghĩ, ‘đầu mình hết đau rồi sao?’ Hắn vừa nghĩ đến đây thì cảm giác trong đầu có cơn đau đớn mơ hồ, nhưng không còn đau đớn cùng cực như trước đây nữa.

Chẳng lẽ người gặp chuyện vui thì tinh thần cũng sẽ sảng khoái hơn nhiều? Địch Thanh đang kinh ngạc thì có một người hoan hô:

– Đao pháp tuyệt quá! Địch nhị ca, không ngờ huynh có bản lãnh như vậy. Đầu huynh hết đau rồi sao?

Địch Thanh quay đầu lại liền trông thấy Quách Quỳ. Địch Thanh ngờ vực nói:

– Huynh cũng không chắc là đã tốt hơn hay chưa. Nhưng lần này sau khi múa đao xong, đầu huynh thật sự không còn đau đớn như trước kia nữa.

Quách Quỳ vui vẻ nói:

– Đây chẳng phải là chuyện rất tốt hay sao? Mấy ngày nữa huynh hãy đi tìm Vương đại phu xem sao.

Địch Thanh nghi hoặc gật gật đầu, đột nhiên nhớ tới chuyện tối hôm qua, hắn bèn nói:

– Tiểu Quỳ, đệ lúc nào cũng nói mình rất có học vấn, huynh muốn đố đệ một câu.

Quách Quỳ ngạc nhiên hỏi:

– Huynh muốn đố đệ câu gì?

Địch Thanh cởi giày, lấy tuyết trắng lau bùn nhơ dưới đế, thấp thỏm hỏi:

– Đệ có biết tám chữ này có nghĩa gì không?

Quách Quỳ nhận lấy giầy, bịt mũi lại than:

– Huynh mấy ngày chưa rửa chân rồi?

Địch Thanh nở nụ cười xấu hổ, nói tránh đi:

– Đừng giả bộ đánh trống lảng nữa, không biết thì nói không biết. Được rồi, để huynh đi tìm người khác hỏi là được.

Hắn giả vờ thò tay muốn giật giày lại, Quách Quỳ cầm giày lui về phía sau một bước, la lên:

– Huynh quá xem thường đệ rồi đó, đây chẳng phải là tám chữ ‘Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung’ sao? Có gì khó đâu chứ?

Địch Thanh thấy Quách Quỳ đọc trôi chảy, không giống như đang lừa hắn, kỳ quái hỏi:

– ‘Diêu diêu thảo trùng, thích thích phù thũng’(*) là nghĩa gì? Đá mấy cước thì tất nhiên là sưng phù rồi, ha ha.

(‘Thảo trùng lay động, đá đá sưng phù’)

Dứt lời, hắn cười gượng mấy tiếng. Hắn biết cô gái viết mấy chữ này, tuyệt đối không phải có ý này.

Quách Quỳ nhìn Địch Thanh từ trên xuống dưới, cười ranh ma hỏi:

– Huynh nói xem … đôi giày này huynh mua ở đâu?

Địch Thanh trả lời:

– Đây là giày của quan gia, có vấn đề gì sao?

Quách Quỳ trầm ngâm xem giày, xác định Địch Thanh nói không sai. Kinh thành có bát đại cấm quân, mỗi cấm quân đều có trang phục thống nhất. Vào mùa đông hằng năm, cơ quan quản lý trang phục mùa đông Độ Chi Bộ thuộc Tam Ti đều phát cho mỗi người hai đôi. Đại ca Quách Quỳ cũng mang giày giống vậy.

– Vậy thì lạ nhỉ?

Quách Quỳ rất ngạc nhiên hỏi:

– Sao lại có người khắc tám chữ này lên giày của huynh chứ?

Địch Thanh vốn muốn nói là mình khắc. Chỉ có điều hắn sợ Quách Quỳ nếu biết rồi thì sẽ không giải thích đúng ý, đã đâm lao đành phải theo lao, hắn nói:

– Đúng vậy, kỳ quái thiệt, trong lúc vô tình huynh phát hiện đế giày của huynh có khắc tám chữ này, mấy ngày nay quên kiếm người để hỏi, hôm nay gặp đệ nên mới đố đệ. Đệ biết hai câu này có nghĩa là gì không? Không biết thì cứ nói không biết, huynh sẽ không cười nhạo đệ đâu.

Hắn nói xong lại cười rộ lên.

Quách Quỳ khịt mũi khinh thường nói:

– Đệ đọc nhiều sách vở, thông cổ tri kim (biết thời xưa hiểu thời nay), sao lại không biết nghĩa của hai câu này chứ? Hai câu này ý nói, thảo trùng kêu vang ‘yêu yêu’(liu riu), châu chấu xung quanh nhảy về phía trước. ‘Yêu yêu’ là tiếng kêu của cào cào, ‘phụ chung’ là chỉ châu chấu, ‘địch địch’ là dáng nhảy lên của châu chấu. Sao nào? Huynh phục chưa?

Địch Thanh biết được nghĩa của tám chữ này, đầu lại càng to ra, hắn thầm nhủ: ‘Nàng ấy viết tám chữ này là có ý gì?’ Hắn ra vẻ châm chọc nói:

– Tiểu Quỳ, đệ đừng lừa huynh. Chắc đệ cho rằng nhị ca không biết chữ nên bịa đại một cái nghĩa. Khà khà! Bọn họ khắc dưới đế giày huynh tám chữ này, sao có thể là ý này chứ? Ôi chao, thật là kỳ lạ! Thôi được rồi, có lẽ huynh nên đi tìm vị đại nho nào đó có học vấn hỏi thử xem. Đệ à, cưng còn kém xa lắm.

Hắn mang giày vào, xoay người định đi. Quách Quỳ không cam lòng, túm lấy Địch Thanh kéo lại mếu máo:

– Huynh có thể khinh thường thành ý của đệ, nhưng không được sỉ nhục học vấn của đệ. Tám chữ này đúng là chẳng có nghĩa gì hết, nhưng ý là nằm ở mấy câu thơ sau kìa!

Địch Thanh khẽ run, giả vờ không quan tâm hỏi:

– Đằng sau như thế nào?

Quách Quỳ lớn tiếng nói:

– Đây vốn là một bài nằm trong Kinh Thi(1), tên là “Thảo Trùng(2)”. Đằng sau hai câu ‘Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung’ là ‘Vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung’. (Không thấy quân tử, ưu tư bời bời)

Lòng Địch Thanh chấn động, ngây ngẩn cả người.

“Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung; vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung!”

(Chấu kêu ti tỉ, cào nhảy loi choi. Không thấy quân tử, ưu tư bời bời.)

Địch Thanh dù không thông hiểu sách vở lắm, nhưng cũng ít nhiều hiểu được hàm nghĩa bốn câu này. Giờ phút này, hắn chỉ muốn gào lên thật to, hóa ra nàng đang quan tâm mình! Khoảnh khắc này, trong sự vui sướng còn có ngọt ngào, trong cảm động lại xen lẫn thương cảm.

Hắn chỉ là tên cấm quân tầm thường, lại buồn bực thất bại, mặc dù thích nàng nhưng không dám nói ra. Hắn thấy dung mạo nàng thoát tục, xinh đẹp tuyệt luân, chỉ nghĩ rằng có thể gặp được nàng, trò chuyện cùng nàng mấy câu thì đã là may mắn cả đời rồi. Nhưng đâu ngờ rằng, nàng cũng quan tâm tới hắn!

Đầu Địch Thanh choáng váng, hạnh phúc đến nỗi lồng ngực muốn nổ tung.

Quách Quỳ không để ý đến vẻ khác thường của Địch Thanh, cất tiếng giải thích:

– Đây vốn là thơ tình nói về việc tình nhân đợi chờ ước hẹn, nhưng mãi không thấy được người trong lòng đâu cả, cho nên rất lo lắng. Ha ha, huynh không còn lời nào để nói nhé? Chắc là có anh chàng nào đó ở Độ Chi Bộ trong Tam Ti có ý với huynh nên mới khắc mấy chữ này lên giày huynh để thổ lộ tình ý.

Nói xong, nó cười nắc nẻ, vô cùng hả hê.

Địch Thanh phục hồi lại tinh thần, nhìn mặt trời ửng hồng mọc lên ở phương đông. Hắn nhớ ra hôm nay còn phải đi tuần, thầm kêu không tốt. Hắn vừa định rời đi, nhưng không dám chắc mới hỏi:

– Tiểu Quỳ, đệ nói cái gì? Trong sách có viết sao?

Quách Quỳ bĩu môi, xoay người chạy ùa về phòng, chỉ chốc lát sau nó đã mang tới quyển Kinh Thi ném cho Địch Thanh nói:

– Huynh tự mình xem đi. Chẳng lẽ đệ lại đi lừa huynh, lẽ nào trong sách cũng đặc biệt viết riêng để lừa huynh sao?

Nói xong, nó lắc lắc đầu, ngáp dài:

– Bị tiếng múa quyền của huynh đánh thức, ra đây xem thế nào? Không nghĩ tới gặp phải người không có phẩm vị. Đệ trở về ngủ thêm một giấc mới được.

Địch Thanh lật sách vùn vụt, cuối cùng tìm được bài “Thảo Trùng”. Bốn câu đầu trong “Thảo Trùng” y như lời Quách Quỳ giải thích, phần sau còn có thêm ba câu nữa: “Diệc ký kiến chỉ, diệc ký cấu chỉ, ngã tâm tắc hàng.” (Chỉ cần được gặp, được thấy mặt người, lòng này thảnh thơi.)

Bên cạnh trang sách còn có ghi chú của Quách Quỳ, giải thích rằng: ‘Cuối cùng gặp được người trong lòng, liền uống cạn một chén lớn.’ Địch Thanh thầm nghĩ: “Quách Quỳ này giải thích không lưu loát gì hết trơn hết trọi, ý cảnh hoàn toàn không hợp với phần trước, giải thích chính xác phải là: ‘Cuối cùng gặp được người trong lòng, vậy là ta đã yên tâm.’

Thơ chia làm ba đoạn nhưng ý thơ đều tương tự nhau. Địch Thanh cất sách rồi chạy nhanh khỏi Quách phủ. Nghĩ đến tám chữ “Vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung”, hắn nhịn không được cất tiếng hét to đồng thời lộn mèo một cái. Nhưng hắn lại nghĩ ‘Địch Thanh ơi Địch Thanh, người ta thì lo lắng mà ngươi còn vui vẻ được sao, không nên như vậy chứ.’ Nhưng rồi không kềm được vui vẻ trong lòng, hắn chạy một mạch như bay đến tận quân doanh.

Chương 13 : Chém giết (2)

Thật may là hắn vẫn chưa trễ, đầu cũng không đau nhức. Sau khi đến quân doanh, Địch Thanh nhận nhiệm vụ tuần tra khu vực quanh sông Thái với Trương Ngọc và Lý Vũ Hanh.

Chờ đến phụ cận sông Thái, Địch Thanh tìm một chỗ khuất gió vừa tắm nắng vừa nhìn bầu trời đến phát ngây, khóe miệng luôn nở nụ cười như có như không.

Một ngày bình yên, gần tới lúc báo cáo kết quả công tác, Địch Thanh không chịu nổi nữa, bèn lén lấy quyển Kinh Thi ra xem. Khi nhìn thấy mấy câu: “Trắc bỉ nam sơn, ngôn thải kỳ quyết, vị kiến quân tử, ưu tâm tuyết tuyết.” trong Kinh Thi, hắn không khỏi nghĩ thầm: ‘nếu thật sự có thể cùng nàng lên núi hái quyết, xuống núi trồng rau nuôi dê thì dù cho mình làm hoàng đế mình cũng không thèm. Nhưng mà nàng có cuộc sống ấm no, nàng sẽ không làm như thế đâu, có thật là nàng đang đợi mình không? Mình có gì tốt chứ? Chao ôi, có lẽ tám chữ này là viết cho người khác, mình chỉ tự mình đa tình mà thôi. Địch Thanh lo được lo mất, vẻ mặt cũng biến hóa liên tục.

(Dạo khắp Nam Sơn, nói đi hái quyết, không gặp được chàng, nhớ nhung da diết).

Trương Ngọc thấy Địch Thanh đang xem sách thì hoảng hết cả hồn, có lẽ còn kinh ngạc hơn cả việc thấy Thái Hậu trao trả triều chính cho hoàng đế. Hắn lại thấy sắc mặt của Địch Thanh biến hóa trăm kiểu, nhịn không được đưa tay sờ trán Địch Thanh. Địch Thanh giật mình nhảy lùi về phía sau, đến khi phát hiện ra là Trương Ngọc thì kinh ngạc hỏi:

– Ngươi làm gì thế?

Trương Ngọc không trả lời mà hỏi ngược lại:

– Hôm nay có uống thuốc chưa?

Địch Thanh ngạc nhiên hỏi:

– Chưa uống, sao vậy?

Trương Ngọc nói:

– Vậy ta đề nghị ngươi mau uống thuốc đi. Ta thấy ngươi lúc thì ưu sầu, lúc thì cao hứng, trúng tà à?

Địch Thanh hất tay Trương Ngọc ra, cười mắng:

– Ngươi mới trúng tà đó.

Lời còn chưa dứt, Lý Vũ Hanh đột nhiên thấp giọng nói:

– Thật tà môn, sao bọn họ lại đến?

Địch Thanh rùng mình ngẩng đầu lên, trông thấy Hạ Tùy và Khâu Minh Hào đã sánh bước đi tới. Địch Thanh âm thầm kêu khổ đồng thời cũng lấy làm kỳ quái, không hiểu sao Biện Kinh to lớn như vậy mà hai ngày nay cứ gặp phải hai tên này? Nếu như hai người Hạ Tùy tình cờ gặp được Địch Thanh hai lần thì quá trùng hợp. Nhưng nếu như cố tình, Hạ Tùy, Khâu Minh Hào và Địch Thanh không qua lại với nhau, bọn họ rốt cuộc muốn làm gì?

Hạ Tùy vẫn mang dáng vẻ xấc láo như trước, lạnh lùng hỏi:

– Chung quanh đây có gì khác thường không?

Trương Ngọc lắc đầu nói:

– Hồi bẩm Chỉ huy sứ, không có khác thường.

Hạ Tùy cau mày, quay qua nói với Khâu Minh Hào:

– Vậy thì lạ thiệt, tên giặc này rốt cuộc ẩn nấp nơi nào chứ?

Khâu Minh Hào chậm rãi nói:

– Người của Di Lặc giáo từ trước đến giờ đều tỏ vẻ thần bí. Theo ý ta, nhân thủ của bọn chúng lần này đến Biện Kinh sẽ không nhiều, chủ yếu là phô trương thanh thế…

Địch Thanh nghe đến ba chữ Di Lặc giáo thì tim đập loạn. Hắn nghĩ thầm: ‘Chẳng lẽ Đa Văn Thiên Vương lại đến ư? Y đến đây làm gì? Tìm Ngũ Long sao?’

Hạ Tùy lắc đầu nói:

– Chuyện này thà tin là có còn hơn là không. Ngày mai là đại điển, nếu như để bọn chúng kinh động thánh giá, vậy thì nguy to.

Hắn quay đầu lại, nói với Trương Ngọc:

– Các ngươi lại phải vất vả theo chúng ta đi bắt giặc, không thiếu chỗ tốt cho các ngươi đâu.

Trương Ngọc đã hiểu rõ, thì ra kinh thành xuất hiện phản tặc, hèn chi Hạ Tùy lại khẩn trương đến thế. Trương Ngọc dù không muốn chỗ tốt tí nào, song bây giờ hắn không còn cách nào từ chối. Đang lúc do dự thì từ phía bắc đột nhiên có cấm quân chạy tới thì thầm bên tai Hạ Tùy mấy câu. Hạ Tùy khẽ biến sắc, nói:

– Chuyện này có thật không?

Cấm quân này đáp:

– Tuyệt không giả dối.

Hạ Tùy lập tức nói khẽ mấy câu với Khâu Minh Hào. Khuôn mặt như tấm sắt của Khâu Minh Hào cũng khẽ biến, nói:

– Nếu như tin này chính xác, vậy phải lập tức ra tay.

Hạ Tùy gật gù, quát Trương Ngọc:

– Đã phát hiện hành tung của giáo đồ Di Lặc. Chúng ta phải lập tức bắt giặc, ba người các ngươi hãy đi theo ta!

Dứt lời hắn dẫn đầu đoàn người chạy về phương bắc.

Lòng Địch Thanh nặng trĩu, sờ quyển sách trong ngực, đành bó tay.

Đoàn người chạy một mạch về phương bắc, chẳng mấy chốc đã đến được phụ cận cửa bắc. Hạ Tùy vẫn không dừng lại mà chạy thẳng đến hướng cửa hiệu vàng bạc Vương gia. Địch Thanh thầm nhíu mày. Hắn còn nhớ lộ tuyến hôm qua cũng y như vậy.

Hạ Tùy đến cạnh cửa hiệu vàng bạc Vương gia cũng không dừng lại mà chạy chếch vào một ngõ hẻm ở bên cạnh. Khi đến trước một trạch viện lớn liền có cấm quân cải trang hấp tấp chạy tới chỉ tay về phía trạch viện nói:

– Hạ chỉ huy, có người nhìn thấy bọn chúng tiến vào đó rồi không trở ra nữa.

Lúc này có cấm quân lục ta lục tục chạy tới. Số lượng không ngờ đến hơn mười người, ai nấy đều cầm vũ khí sắc bén trong tay, có người còn cầm cung nỏ. Địch Thanh vừa nghĩ tới võ công của Đa Văn Thiên Vương, lòng bàn tay rịn đầy mồ hôi.

Hạ Tùy ra lệnh:

– Lệ Chiến, ngươi dẫn mười người xiết chặt đường chính phía nam, dùng nõ cứng bắn vào yếu đạo. Nếu có cường đạo lao ra thì giết không cần hỏi. Tống Thập Ngũ, ngươi dẫn nhóm kim thương coi giữ tường viện phía bắc, không cho bất cứ kẻ nào thoát ra. Cao Đại Danh, Uông Minh Đô, hai người các ngươi chia nhau dẫn cung tiễn thủ và đao phủ thủ canh giữ hai hướng đông tây, không được sơ suất!

Bọn người Lệ Chiến, Tống Thập Ngũ, Cao Đại Danh và Uông Minh Đô đều là quân Kiêu Kỵ, nhao nhao nhận lệnh. Đến lúc này thì Phó Đô Đầu – Vương Khuê và Quân Đầu – Lý Giản của quân Kiêu Vũ cũng chạy tới. Địch Thanh đến kinh thành đã nhiều năm, nhưng đây là lần đầu tiên gặp phải thế trận như vầy, trong lòng trở nên khẩn trương.

Hạ Tùy nhìn Khâu Minh Hào nói:

– Khâu bộ đầu, nhân thủ đã đến đông đủ. Điều động nhân thủ thì tại hạ thông thạo, song việc bắt giặc thì giao cho ngài.

Khâu Minh Hào bình tĩnh nói:

– Ta đã từng đến Tào phủ, biết rằng phủ này chia làm: tiền thính (nhà trước), hậu đường (nhà sau), tả hữu sương (hai dãy hiên hai bên) kéo dài tới hậu hoa viên, chuồng ngựa, hòn non bộ, đình mai và rừng trúc. Tào tướng đã tạ thế, con cháu y đã rời khỏi kinh thành, vì thế tòa trạch viện này trở nên hoang vu. Tên giặc ẩn náu trong đó, chúng ta phải chia nhau ra tìm thôi.

Địch Thanh chột dạ, thầm nghĩ: ‘Nơi này chẳng lẽ là trạch viện của Xu Mật sứ Tào Lợi Dụng ư?’.

Hạ Tùy cau mày nói:

– Vậy thì Khâu bộ đầu và Vương Khuê cùng một đội với ta, xông thẳng vào tả hữu sương. Lý Giản, ngươi dẫn hai người đến tra xét đình mai và rừng trúc. Còn Trương Ngọc, Địch Thanh và Lý Vũ Hanh, ba người các ngươi đến hậu hoa viên xem xét tình hình….

Sau khi đưa ra hàng loạt phân công, Hạ Tùy nói:

– Theo tin tức thì ở đây có ba nhân vật khả nghi. Lần này bao vây bắt giặt, chúng ta ra tay phải tuyệt đối thành công. Nếu phát hiện ra tung tích giặc thì chỉ cần thổi còi là được, những người còn lại nếu nghe thấy tiếng còi phải nhanh chóng chạy đến trợ giúp.

Vừa dứt lời liền có đám người khiêng cây gỗ to phá cửa. Một tiếng “oanh” thật lớn vang lên, cửa son ngã xuống. Hạ Tùy hăng máu dẫn đầu xông vào tiền thính, vượt qua hậu đường rồi chạy nhanh về hướng tả hữu sương.

Địch Thanh và Trương Ngọc gặp việc hệ trọng như vậy, mặc dù trong lòng thấp thỏm lo âu, nhưng cũng có chút hưng phấn. Sắc mặt Lý Vũ Hanh lại tái nhợt, có vẻ sợ sệt. Ba người chạy một mạch dọc theo đường mòn, vòng qua hòn non bộ, đình đài lầu các, rồi tiếp tục chạy thêm một lúc nữa mới đến được hậu hoa viên. Tào phủ rất lớn, tuyết đọng thật dày, vô cùng hoang vu. Trương Ngọc thấy thế, nhịn không được thở dài:

– Cả đời Tào Lợi Dụng hào hoa xa xỉ không chịu trói buộc, không ngờ sau khi chết thì Tào gia lại suy tàn đến thế.

Địch Thanh khẽ suỵt:

– Cẩn thận.

Hắn thấy Lý Vũ Hanh theo sát phía sau mình, mỉm cười nói:

– Không cần sợ, ngươi chưa từng giết người sao?

Lý Vũ Hanh khẩn trương đến nỗi cả người run rẩy, nói:

– Ngay cả gà ta cũng chưa từng giết huống chi là ngươi? Trời ơi, ta cứ tưởng rằng sau khi gia nhập cấm quân sẽ được hưởng phúc, đâu ngờ còn phải bắt giặc. Nhìn thanh thế của bọn họ như vậy, khẳng định tên giặc này rất hung ác. Các ngươi nhất thiết phải cẩn thận.

Giọng nói hắn phát run, rất bất an.

Trương Ngọc và Địch Thanh đều lắc đầu thở dài. Nhìn Lý Vũ Hanh thường ngày thô kệch, không ngờ lại là người nhát gan đến thế.

Địch Thanh an ủi:

– Vũ Hanh, ngươi đừng lo lắng. Chúng ta nhiều người, không cần phải sợ.

Hắn đưa mắt nhìn quanh, thấy băng tuyết bao trùm hậu hoa viên, xa xa có chuồng ngựa, nhưng sớm đã không còn con ngựa nào. Cách chuồng ngựa không xa là giếng nước, thùng nước đã lâu không sử dụng nằm lăn lóc ở bên cạnh, khiến cảnh vật càng lộ ra vẻ thê lương.

– Đi tới kiểm tra chuồng ngựa nào. Xung quanh đây xem ra chỉ có chỗ đó là tên giặc có thể ẩn nấp.

Trương Ngọc nhíu mày nói.

Ba người sóng vai nhau đi về phía chuồng ngựa. Trong chuồng ngựa là một mảng âm u, nhìn không rõ cảnh vật trong đó. Chuồng ngựa này thật lớn, chỗ bên trái có cái lán chất đầy cỏ khô cho ngựa ăn. Trương Ngọc nhặt một cục đá từ trên mặt đất ném vào. “Độp” một tiếng, trong bầu không khí yên tĩnh của hậu hoa viên nghe càng thêm đáng sợ. Lý Vũ Hanh rùng mình, thấy chuồng ngựa không có bất kỳ động tĩnh gì, run giọng nói:

– Không có ai cả. Trương Ngọc, Địch Thanh, hay là chúng ta ngồi ở đây một lát đợi tin tức của những người khác, đừng mù quáng mà xông vào.

Địch Thanh đột nhiên chun mũi, khẽ ồ lên một tiếng. Trương Ngọc và Lý Vũ Hanh rùng mình, vội hỏi:

– Gì thế?

Địch Thanh nhìn về phía góc chuồng ngựa, nói:

– Nơi đó không phải tuyết, mà là hoa mai, có hương thơm phát ra từ đó.

Bên cạnh chuồng ngựa này có một bụi hoa mai trắng như tuyết. Địch Thanh nhìn thấy hoa mai thì nhớ tới cô gái, trong lòng cảm thấy ấm áp. Hắn thầm nghĩ, xem ra nàng lại uổng công chờ đợi rồi. Trời ơi…

Trương Ngọc thở phào nói:

– Địch Thanh, đến lúc này mà ngươi còn để ý hoa mai?

Địch Thanh ngượng ngùng dời ánh mắt đi. Hắn đột nhiên nhìn chòng chọc vào mặt đất nói:

– Các ngươi xem đây là dấu vết do vật gì để lại?

Dưới ánh trăng mờ nhạt, ba người thấy trên mặt tuyết trắng bạc có hai hàng dấu vết hình bán nguyệt. Những hình bán nguyệt này lớn cỡ nắm tay, ở ven rìa còn có ba vết răng in sâu vào mặt tuyết, xếp thành một kí hiệu kéo dài tới miệng giếng.

Trương Ngọc ngồi xổm xuống dán mắt nhìn dấu vết này rồi ngạc nhiên nói:

– Cái này không phải là dấu chân người, nhưng đây cũng không phải là dấu chân thú vật. Cả đời ta chưa bao giờ nhìn thấy loại dấu vết kỳ quái này.

Địch Thanh vừa định đi dọc theo dấu vết này tìm kiếm, nhưng bị Lý Vũ Hanh kéo lại. Lý Vũ Hanh nói:

– Địch Thanh, dấu vết này kỳ quái quá, hay là chúng ta đợi Hạ Tùy đến rồi hãy quyết định tiếp.

Địch Thanh cười khổ nói:

– Đến khi đó nếu như bọn họ hỏi chúng ta ở đây làm gì, chẳng lẽ chúng ta nói ngồi ở đây chờ sao? Vậy thì quá bẽ mặt.

Lý Vũ Hanh xấu hổ buông tay ra, lẩm bẩm nói:

– Bẽ mặt dẫu sao vẫn tốt hơn toi mạng.

Địch Thanh không quan tâm. Hắn bước dọc theo dấu vết tiến về phía miệng giếng, thấy những dấu vết này kéo dài đến cạnh giếng liền không thấy nữa thì không khỏi cảm thấy kỳ quái. Trương Ngọc cũng đến bên cạnh giếng, nhìn khắp bốn phía, cau mày nói:

– Đây là cái gì vậy, lẽ nào dẫn vào trong giếng ư?

Hắn vừa định nhìn vào trong giếng nước thì Địch Thanh đột nhiên cảm thấy có điều không ổn, trong đầu chợt lóe kim quang, vội kéo Trương Ngọc lại, hét lên:

– Cẩn thận!

Không biết vì sao vào thời khắc này, Địch Thanh lại có cảm giác rét lạnh mà trước nay chưa từng có, trong giếng có chứa mối nguy cực lớn!

Đúng lúc này, trong giếng có một luồng ánh sáng vô cùng chói mắt bay ra. Luồng ánh sáng này cực sáng, trong nháy mắt đã áp chế ánh trăng trên trời, vô cùng kỳ dị. Ánh mắt ba người đều dõi theo luồng sáng này, trong luồng sáng bất ngờ phân ra một vệt sáng lạnh, đâm về phía yết hầu Trương Ngọc.

Là gì đang ở trong giếng? Chẳng lẽ đây là giáo đồ Di Lặc giáo mà bọn người Hạ Tùy muốn bắt?

Địch Thanh hét lớn một tiếng, thò tay rút đao chém một nhát về phía vệt sáng đó. Vệt sáng này là kiếm, trong giếng có người!

Địch Thanh lập tức chém ra một đao, công địch tất cứu. (đánh vào nơi yếu hại của địch để buộc y phải phòng thủ)

Một đao này của hắn không tính là cao siêu, nhưng thời điểm ra đao lại vô cùng chuẩn xác, kẻ này nếu muốn giết Trương Ngọc thì phải để cái mạng lại. Ai ngờ kẻ này trở kiếm, ánh kiếm đột nhiên bay vút lên, đâm trúng vào cổ tay Địch Thanh. Địch Thanh thét lên một tiếng đau đớn, đơn đao rời khỏi tay bay vọt lên không.

Huyết quang tóe ra, không trung như hoa mai nở rộ. Hoa mai này chưa rơi xuống, trường kiếm đã hóa thành độc long bay tới cắn thẳng vào cổ Địch Thanh. Địch Thanh mặc dù có thể liều mạng, nhưng chưa bao giờ thấy qua kiếm pháp tàn nhẫn, độc ác và nhanh đến thế.

Trong chớp mắt, Địch Thanh đã không thể tránh thế kiếm đâm tới. Ngay khoảnh khắc giữa lằn ranh sống chết, hai chân Địch Thanh bị ai đó kéo mạnh. Hắn bất ngờ ngã xuống, điều này vượt ra ngoài dự liệu của kẻ đó, nhờ vậy mà Địch Thanh đã tránh được một kiếm trí mạng này.

Người kéo ngã Địch Thanh chính là Trương Ngọc. Thời điểm Trương Ngọc bị một kiếm kia đâm vào yết hầu, trong đầu đã nghĩ đến chữ chết, nhưng Địch Thanh cứu hắn một mạng. Trương Ngọc tìm được đường sống từ trong chỗ chết, chẳng những không khiếp sợ mà còn kích phát ra dũng khí vô biên. Hắn biết tay kiếm này võ công rất cao nhưng hắn vẫn xông tới, bởi vì Địch Thanh đang gặp nguy hiểm.

Con đường sống chết.

Sống chết cũng thường được xác định chỉ trong chớp mắt. Bởi vì sự can đảm của Trương Ngọc và hắn cách Địch Thanh rất gần nên hắn đã cứu được Địch Thanh một mạng trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng trường kiếm kia lại như rồng, hóa thành một vệt sáng đâm vào bả vai Trương Ngọc, máu tươi bắn ra tung tóe. Trương Ngọc không rên lên một tiếng nào, ôm Địch Thanh lăn một vòng đến bên cạnh chuồng ngựa. Hai người nhảy bật lên chăm chăm nhìn vào đối thủ như mãnh thú rình mồi, không mảy may sợ hãi.

Mặc dù võ công của hai người không cao tuyệt, tài nghệ cũng không vô song, nhưng cả hai đều có dũng khí cuồn cuộn mãnh liệt, có nghĩa khí quên mình. Bọn họ vừa trải qua ranh giới giữa sự sống và cái chết nên đều vô cùng tín nhiệm đối phương. Họ biết hiện giờ nếu muốn bảo toàn tính mạng thì chỉ có thể dựa vào dũng khí, dựa vào nấm đấm, dựa vào sự đồng lòng của huynh đệ bọn họ.

Khoảng cách giữa kẻ xuất kiếm và hai người Địch Thanh chỉ hơn một trượng, nhưng gã bị dũng khí của hai người bức bách nên tạm thời không dám tiến lên.

Khi Địch Thanh nhìn thấy rõ mặt mũi của kẻ đó. Cả người hắn bỗng lảo đảo như thể bị búa tạ đập mạnh vào ngực. Kẻ xuất kiếm mặc áo xanh, tóc đỏ mắt trợn trừng, vẻ mặt cực kỳ phẫn nộ và uy nghiêm, đây là Tăng Trưởng Thiên Vương, người mà trước đây Địch Thanh đã đâm chết!

Tăng Trưởng Thiên Vương vẫn chưa chết? Hay là y đã chết rồi và đây chỉ là quỷ hồn của y đến báo thù?

Địch Thanh không tin! Trước đây Địch Thanh rõ ràng đã đâm một kiếm xuyên qua tim Tăng Trưởng Thiên Vương, sau đó Quách Tuân cũng chứng thực rằng Tăng Trưởng Thiên Vương đã chết, nhưng không có cách gì tra ra thân phận của y. Người chết không thể phục sinh, vậy kẻ trước mắt là ai đây?

Địch Thanh đang chìm trong suy tư thì có tiếng còi vang lừng, thì ra Lý Vũ Hanh đang thổi còi. Lý Vũ Hanh thấy chiến đấu kịch liệt, không dám đến gần. Nhưng hắn vẫn làm được chuyện có ích, đó là báo động cầu viện. Tiếng còi vừa cất lên, từ phương hướng mai đình, rừng trúc cũng truyền đến tiếng còi, đây chắc là Lý Giản đang cầu viện.

Trong Tào phủ này không chỉ có một kẻ địch là Tăng Trưởng Thiên Vương?

Tiếng còi vừa mới cất lên giữa rừng trúc, Địch Thanh chợt cảm thấy trời đất hơi sáng. Hắn vội vàng nhìn sang hướng bên cạnh thì lại thấy có ánh lửa từ tả hữu sương, chỉ trong nháy mắt tiếng còi đã vang lên dồn dập.

Không ngờ bọn người Hạ Tùy cũng gặp phải kẻ địch? Trong Tào phủ này, rốt cuộc có bao nhiêu kẻ địch?

Lòng Địch Thanh trầm xuống, khắp Tào phủ đều có địch, rất khó để ai đó đến giúp bọn hắn. Với khả năng của hắn và Trương Ngọc thì làm sao có thể đấu lại Tăng Trưởng Thiên Vương?

Tăng Trưởng Thiên Vương lạnh lùng nhìn Địch Thanh, đột nhiên trầm giọng:

– Trả mạng cho ta!

Gió lạnh thổi qua, hoa viên trở nên quỷ khí trùng trùng. Địch Thanh cắn răng nói:

– Người chết không thể sống lại, ngươi không phải là Tăng Trưởng Thiên Vương!

Trong mắt Tăng Trưởng Thiên Vương lấp lánh ánh sáng kì dị, quát:

– Phật chủ tân sinh, Thiên Vương bất tử!

Hắn nói xong liền ra kiếm đâm vào cổ họng Địch Thanh. Võ công của kẻ này rất cao cường, ắt không kém tên Tăng Trưởng Thiên Vương ở thung lũng Phi Long năm đó là bao.

Trương Ngọc thấy thế, quát khẽ một tiếng đồng thời lăn một vòng rồi vung đao chém ngang vào hai chân Tăng Trưởng Thiên Vương. Phương thức tấn công mà hắn đang dùng là vây Nguỵ cứu Triệu.

Lần này Địch Thanh đã sớm đề phòng. Hắt xoay nhanh người lại, thoắt cái đã đến cây cột ở phía sau chuồng ngựa, sau đó nhảy lên đưa tay chụp lấy chĩa sắt cạnh chuồng ngựa.

Trường kiếm ngân lên một tiếng, đâm mạnh vào cột gỗ. Kiếm thế uy mãnh phá tan cột gỗ!

Địch Thanh không thể tưởng tượng được trên đời này lại có kiếm pháp uy mãnh đến thế. Hắn tay không tấc sắt, chỉ cố chụp lấy chĩa sắt để ứng chiến, không ngờ lại tránh được một kiếm quỷ thần khó lường này. Nhìn trường kiếm, sống lưng Địch Thanh ớn lạnh. Nhưng có chĩa sắt trong tay, Địch Thanh không nghĩ nhiều liền vung lên đập mạnh vào trường kiếm.

Đơn đao của Trương Ngọc cũng đã đến chân Tăng Trưởng Thiên Vương. Tăng Trưởng Thiên Vương không kịp rút kiếm. Y tung người nhảy lui về phía sau, trường kiếm vang lên một tiếng “keeng” rồi gãy thành hai đoạn.

Địch Thanh và Trương Ngọc chấn động tinh thần, thừa dịp Tăng Trưởng Thiên Vương vừa mất đi binh khí, một trái một phải cùng nhau đánh tới. Hai người biết đây là cuộc chiến sinh tử, nên thế như hổ điên, xuống tay không chút lưu tình. Trong nháy mắt, Tăng Trưởng Thiên Vương bị bức lui mấy bước đến gần đống cỏ khô trước chuồng ngựa.

Trương Ngọc thấy vậy, mạnh mẽ bước dài tới chém liên tiếp ba đao. Địch Thanh vừa định vung chĩa chặn đường lui của Tăng Trưởng Thiên Vương thì thoáng thấy đống cỏ khô chợt động, trong lòng sợ hãi quát lên:

– Cẩn thận!

Hắn vừa mới quát lên, Tăng Trưởng Thiên Vương đột nhiên đưa tay bắt lấy chĩa sắt rồi tiếp đó khống chế hai tay Địch Thanh.

Đống cỏ khô đột nhiên bị ai đó tung lên, rơi ào ào vào người Trương Ngọc, che khuất tầm mắt hắn. Trương Ngọc vội nhắm mắt lại. Hắn không nhìn thấy một luồng ánh sáng bay ra, trong nháy mắt đã chém tới trước mặt hắn! Thì ra trong đống cỏ khô còn có kẻ địch. Gã đó nhẫn nhịn đến bây giờ mới chịu ra tay. Gã vừa ra tay liền dồn Địch Thanh và Trương Ngọc vào chỗ chết.

Một gã vận áo trắng nhảy ra khỏi đống cỏ khô, tóc tía, mặt mũi hiền lành, trong tay cầm một thanh đao. Thật không thể tin nỗi, người vừa xuất hiện lại là Trì Quốc Thiên Vương mà Địch Thanh trước đây đã nhìn thấy ở thung lũng Phi Long. Địch Thanh kinh hoảng trong lòng, không thể hiểu nổi vì sao Trì Quốc Thiên Vương cũng chưa chết. Mắt thấy Trương Ngọc thân hãm tuyệt cảnh, Địch Thanh đột nhiên vứt chĩa, vung tay lên ném một vật về phía người vừa lao ra khỏi đống cỏ khô, gào lên:

– Xem tuyệt độc ám khí của ta đây.

Vật này rào rào xoạt xoạt trên không, biến ảo muôn hình vạn trạng bay tới gã ấy. Trì Quốc Thiên Vương sắp thành công, bỗng nhìn thấy ám khí kỳ dị này, không cố giết Trương Ngọc nữa mà lập tức lui về sau đồng thời vung đao đánh bật ám khí văng đi. Khi đao vừa chạm vào vật ấy, gã mới phát hiện ám khí này chỉ là một quyển sách mà thôi.

Quyển sách này là 《Kinh Thi》.

Địch Thanh bỏ chĩa ném sách cứu Trương Ngọc một mạng, nhưng lại để Tăng Trưởng Thiên Vương đoạt được chĩa sắt. Y trở tay đâm tới, cán chĩa đâm thẳng vào ngực Địch Thanh chính xác không sai một ly. Địch Thanh cảm thấy ngực mình đau đớn tột cùng, òa một tiếng phun ra một ngụm máu tươi, cả người văng ngược ra ngoài.

Tăng Trưởng Thiên Vương cũng thấy bất ngờ. Thoạt nhìn thì như là thuận tay đâm tới, nhưng chiêu này ngưng tụ toàn bộ sức mạnh của y. Y vốn cho rằng sẽ đâm chết Địch Thanh ngay tại trận, nhưng không ngờ ngực của Địch Thanh giống như có cái gì đó ngăn lại, cán sắt vậy mà lại không đâm thủng được ngực hắn.

Tăng Trưởng Thiên Vương biến hóa cực nhanh, y quát to một tiếng, phóng mạnh chĩa sắt bay tới đâm vào người Địch Thanh. Địch Thanh vẫn còn ở giữa không trung, muốn tránh cũng không tránh được. Có ai đó bỗng bay xẹt qua chắn trước người Địch Thanh. Người này tay không vũ khí, gào to một tiếng, dồn sức vào hai tay nắm chặt lấy đầu chĩa. Song lực ném của Tăng Trưởng Thiên Vương quá mạnh, người này mặc dù nắm được mũi xoa nhưng không thể nào ngăn được một đòn trí mệnh này. Chĩa sắt liền xuyên thủng bàn tay hắn, rồi đâm vào bụng dưới.

Khóe mắt Địch Thanh như muốn nứt ra, rống to:

– Trương Ngọc!

Người ngăn cản đòn chí mạng này cho Địch Thanh chính là Trương Ngọc. Mặc dù hai người không phải là huynh đệ, nhưng tình cảm của họ còn hơn cả huynh đệ. Trong tình cảnh này, hắn không hề nghĩ đến chuyện chạy thoát thân mà chỉ mong sao cứu được huynh đệ, dù có chết cũng cam lòng!

Địch Thanh văng mạnh vào chuồng ngựa. Hắn ngã xuống trên cành tùng mai, phịch một tiếng, mai tuyết tung tóe.

Toàn thân Địch Thanh đau đớn kịch liệt, gân cốt muốn nứt ra, hắn há miệng phun thêm một ngụm máu tươi. Lúc này lửa đã bùng lên khắp Tào phủ, tiếng còi vang lên bốn phía. Địch Thanh chống tay chỏi người muốn đứng dậy bước tới cứu Trương Ngọc, nhưng vết thương quá nặng, tay chân hắn đã không còn chút sức lực nào. Hắn vừa mới ngóc dậy thì lại ngã mạnh xuống đất. Hắn chỉ cảm thấy mệt mỏi gần chết, đom đóm bay loạn trước mắt. Hắn thoáng thấy quyển đang nằm bên cạnh.

Gió lạnh vần vũ, ánh lửa hừng hực. Cánh mai và bông tuyết bay chập chờn theo gió. Địch Thanh dõi mắt nhìn theo cánh hoa rồi dừng lại trên quyển sách. Hắn vừa vặn thấy được một câu trong bài Thảo Trùng: “Trắc bỉ nam sơn, ngôn thải kỳ vi, vị kiến quân tử, ngã tâm thương bi!”

(Trèo lên Nam Sơn, nói hái rau Vi, thiếu người trong mộng, tim thiếp sầu bi!)

Trông thấy câu thơ này, trong lòng Địch Thanh chợt dâng lên nỗi đau thương khôn tả. Cả đời mình thật bất hạnh, ba chìm bảy nổi, vừa mới ban ngày lòng còn tràn đầy niềm vui vì tìm được người mình yêu trong đời, đâu ngờ rằng tới ban đêm lại phải bỏ mạng nơi đây. Nàng ấy chờ đợi đến tận khuya, rốt cuộc vẫn không gặp được mình. Nỗi bi thương này càng lúc càng nồng đậm, ngưng tụ ở ngực, như thể muốn nổ tung. Địch Thanh tuy biết hôm nay chết là cái chắc, nhưng trong lòng hắn lại có một giọng nói liên tục gào thét: ‘Ta không thể chết được, ta không muốn chết, ta không muốn chết!’

Trước đây hắn vẫn có thể tỉnh lại sau khi bị thương nặng ở thung lũng Phi Long, đơn giản là vì còn bận lòng với đại ca. Giờ phút này hắn không muốn chết. Hắn căm giận ông trời đùa cợt với hắn, nỗi bi phẫn khó tả dâng trào. Hắn muốn chống lại ông trời. Nỗi đau xót sục sôi mãnh liệt, trong nháy mắt ào ạt xông lên đỉnh đầu, Địch Thanh chỉ cảm thấy trong đầu bỗng nổ ầm một tiếng, hai con rồng to lớn điên cuồng quẫy động.

Hai con rồng này một hồng một vàng, gào thét rống giận, không ngừng bay lên. Chúng đột nhiên quấn lấy nhau, như mây đỏ đầy trời, như tà dương lóe sáng, rực rỡ khó tả. Thân thể Địch Thanh chấn động, chỉ cảm thấy hai con rồng to lớn này mang đến cho hắn sức mạnh vô biên. Vào thời khắc này, vết thương trên người hắn tuy vẫn còn đau nhưng đã không còn nghĩa lý gì với hắn. Địch Thanh xoay người nhảy lên, chắn trước người Trương Ngọc.

Tăng Trưởng Thiên Vương và Trì Quốc Thiên Vương đều ngơ ngẩn, không thể nào tin được trên đời này còn có người biến thái như hắn. Hắn vừa mới bị thương nặng sắp chết mà sao thoắt cái đã có thể mạnh mẽ như hổ? Càng khiến cho hai vị Thiên Vương kinh hãi là toàn thân Địch Thanh chẳng những run rẩy, mà hai mắt hắn còn co giật không ngừng, như thể bị trúng gió. Hai vị Thiên Vương chưa từng thấy người nào có vẻ mặt quái dị như thế, một sự ớn lạnh không thể khống chế từ đáy lòng dâng lên. Bọn họ chợt phát hiện tên Địch Thanh này lại xa lạ đến thế.

Địch Thanh rống lên một tiếng, xông về phía Tăng Trưởng Thiên Vương.

Địch Thanh lại chủ động ra chiêu đối phó với hai đại Thiên Vương? Tăng Trưởng và Trì Quốc nở nụ cười châm biếm Địch Thanh không tự lượng sức mình, nhưng nụ cười ấy rất nhanh liền biến thành kinh hãi. Bởi vì thế tới của Địch Thanh thật sự quá mãnh liệt, thật sự quá nhanh, nhanh như cưỡi rồng, mạnh như cưỡi hổ. Trong nháy mắt, hắn đã lao tới trước người Tăng Trưởng Thiên Vương.

Tăng Trưởng Thiên Vương cũng đã mất đi binh khí. Y siết chặt nắm tay, đấm cùng lúc hai đấm vào huyệt Thái Dương của Địch Thanh. Chiêu này lấy công làm thủ, ép Địch Thanh không thể không lui về tự bảo vệ mình, cũng có thể coi là chiêu hay vào lúc này. Nhưng Tăng Trưởng Thiên Vương đột nhiên nhận ra, chiêu này cực tệ. Địch Thanh không hề có ý tránh né, hắn nhanh như điện tránh được hai quyền này, rồi xông tới trước ngực Tăng Trưởng Thiên Vương. Tiếp đó hắn như thể phát điên, dang rộng hai tay ôm chặt lấy Tăng Trưởng Thiên Vương rồi ngửa cổ cụng mạnh đầu vào trán của Tăng Trưởng Thiên Vương.

Một tiếng bịch vang lên rất lớn, như trời long đất lở. Tăng Trưởng Thiên Vương cảm thấy đầu mình như muốn vỡ tung, hai mắt tối sầm, máu mũi chảy ròng, y gào lên:

– Cứu ta!

Ban đầu, do có võ công cao tuyệt nên y vô cùng ngạo mạn. Nhưng khi đối mặt với Địch Thanh, lần đầu tiên y sinh ra cảm giác không thể địch nổi.

Trì Quốc Thiên Vương chém ra liên tục ba đao, giống như lốc cuốn hoa mai. Nhưng đao vừa đánh ra lại phải thu về, không có cách nào chém xuống. Vì Địch Thanh đang ôm chặt lấy Tăng Trưởng Thiên Vương xoay như chong chóng. Hai người quấn chặt lấy nhau khiến cho Trì Quốc Thiên Vương không thể phân biệt được người nào với người nào. Đao pháp của gã dù nhanh hơn nữa cũng không dám chém bừa.

Gã chần chờ cho đến khi nghe thấy một âm thanh. Âm thanh này tuy nhỏ, nhưng thoắt cái đã lớn lên thành tiếng rốp rốp rắc rắc. Trì Quốc Thiên Vương cả kinh, không do dự nữa mà vội vung đao chém xuống. Gã phát hiện tiếng rốp rốp này là tiếng xương cốt gãy tạo nên. Cái ôm này của Địch Thanh lại xiết mạnh đến nổi trực tiếp vặn gãy xương cánh tay, xương sườn, xương ngực và cả xương cột sống của Tăng Trưởng Thiên Vương! Trì Quốc Thiên Vương nếu không ra tay, Tăng Trưởng Thiên Vương chắc chắn phải chết.

Đơn đao chém xuống, một cánh tay bay lên. Trì Quốc Thiên Vương gào thảm một tiếng, trong lòng đau đớn khó tả. Hóa ra lúc y chém xuống thì Địch Thanh đã buông tay lui về phía sau, một đao này của gã không thể rút lại liền chém thẳng vào cánh tay của Tăng Trưởng Thiên Vương. Tăng Trưởng Thiên Vương ngã xuống đất như bùn nhão, thất khiếu không ngừng rỉ máu tươi, tay chân co giật liên tục. Tuy bây giờ y chưa thể chết nhưng toàn bộ xương cốt trên người đều đã gãy, đâm xuyên qua ngũ tạng lục phủ, dù không chết nhưng so với chết còn thảm hơn.

Địch Thanh vừa mới lui đã lập tức lao đến trước người Trì Quốc Thiên Vương. Tim Trì Quốc Thiên Vương đập ầm ầm. Gã gầm lên, mũi chân điểm lên mặt đất đẩy người lùi về phía sau.

Trì Quốc Thiên Vương nhìn thấy thảm cảnh của Tăng Trưởng Thiên Vương, đã sớm rét run. Gã sợ rằng Địch Thanh lại ôm chặt lấy gã như lúc nãy nữa thì đúng là sống không bằng chết. Lúc gã rút lui thì đồng thời vung đao lên chém ra mười ba đao nhanh như chớp. Một chiêu mười ba đao này như gió mát, thế như sét đánh, hội tụ năng lực cả đời của Trì Quốc Thiên Vương. Đao thế như thủy triều, sùng sục dồn dập, cuốn lấy cánh mai tuyết đọng xoắn tít lên không, thanh thế to lớn. Trên đời này, sợ rằng ít ai dám chính diện ngăn cản nó!

Tuy nhiên, Địch Thanh lại dám! Trong mắt Địch Thanh chợt lóe lên hàn quang. Hắn liền vung quyền đánh tới. Một quyền này của hắn đánh xuyên qua hàn quang nện thẳng lên thân đao. Đơn đao vang lên tiếng răng rắc rồi gãy thành mấy đoạn. Mấy đoạn đao gãy này bị lực mạnh đánh vào đột nhiên bay ngược trở về găm thẳng vào người Trì Quốc Thiên Vương. Gã thét to một tiếng, vừa rơi xuống đất liền lảo đảo vài bước, thân hình bỗng lóe lên rồi hòa vào trong bóng tối. Địch Thanh vừa định đuổi theo thì Trương Ngọc loạng choạng ngã xuống đất.

Địch Thanh quay đầu nhìn lại. Hắn lập tức bỏ qua ý nghĩ đuổi theo Trì Quốc Thiên Vương mà xoay người ôm lấy Trương Ngọc chạy ra khỏi Tào phủ. Một màn vừa rồi vẫn còn quanh quẩn trong đầu hắn, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, hắn cũng không rõ lắm. Địch Thanh chỉ biết là lúc hai con rồng xuất hiện trong đầu thì sức mạnh trong người hắn bỗng nhiên được phục hồi. Chẳng những vậy, sức mạnh này còn lớn hơn lúc trước mười mấy lần.

Ở trong mắt Địch Thanh. mấy đao chém ra liên tiếp của Trì Quốc Thiên Vương lại chậm rì rì. Do đó Địch Thanh có thể dễ dàng đập gãy đơn đao của Trì Quốc Thiên Vương, ôm chết Tăng Trưởng Thiên Vương. Sức mạnh này đến từ đâu? Và vì sao mà có? Địch Thanh hoàn toàn không biết.

Vừa chạy được vài bước thì hai chân hắn bỗng mềm nhũn, hắn loạng choạng ngã xuống đất. Lúc này hắn mới phát hiện sức mạnh khi nãy đã biến đâu mất, hiện giờ hắn yếu ớt đến đáng thương, bước đi còn khó khăn chứ đừng nói chi là ôm người.

Một người chạy tới nhận lấy Trương Ngọc, nói:

– Địch Thanh, để ta.

Vẻ mặt của Lý Vũ Hanh đầy hổ thẹn. Mới vừa rồi Địch Thanh và Trương Ngọc chiến đấu kịch liệt, Lý Vũ Hanh lại run rẩy sợ hãi. Trừ việc thổi còi báo hiệu ra thì hắn không dám xông vào. Hắn núp ở một bên nhìn Địch Thanh và Trương Ngọc không tiếc tính mạng mà xả thân vì nhau, không khỏi cảm thấy vừa nhục nhã vừa xấu hổ. Vốn tưởng rằng Địch Thanh và Trương Ngọc chết chắc, đâu ngờ rằng Địch Thanh lại có thể đánh bại hai vị Thiên Vương, thậm chí không quan tâm đến bản thân mà cố gắng cứu Trương Ngọc. Hắn cảm thấy rất hối hận nên xông ra.

Địch Thanh xốc lên hai cái, phát hiện mình đã không còn chút sức nào, đáp:

– Vũ Hanh, ngươi dìu Trương Ngọc đi tìm đại phu trước đi, không cần lo cho ta. Ta… không sao đâu.

Hắn chợt biến sắc. Hắn nghe thấy có tiếng người thì thầm:

– Tên Địch Thanh chắc chết rồi nhỉ?

Giọng người này mang vẻ ngạo mạn và vênh váo.

– Hừ…

Có một người khác thấp giọng nói:

– Chuyện chỉ mới bắt đầu thôi, coi chừng tai vách mạch rừng.

Giọng người này lạnh như băng. Địch Thanh cảm thấy mù mờ, không biết giọng nói này từ đâu truyền đến.

Lý Vũ Hanh thấy sắc mặt Địch Thanh tái nhợt, lo lắng nói:

– Ngươi… ngươi không có việc gì thật chứ? Ta biết … ngươi nhất định trách ra, ta xin lỗi hai ngươi.

Dứt lời, hắn ôm lấy Trương Ngọc, chạy ùa ra ngoài.

Địch Thanh ngẩn ra, thầm nghĩ: ‘Mình trách Vũ Hanh sao? Đangg lúc nguy cấp, hắn lại ẩn nấp một bên, quả thật khiến cho người ta bất mãn. Nhưng vào thời điểm sống chết đó, hắn tham gia vào cũng chẳng ích gì. Hơn nữa, mạng chỉ có một cái, còn không phải là do bản thân chọn lựa sao? Mình không nên trách hắn.’

Thấy Lý Vũ Hanh dần khuất trong bóng đêm, Địch Thanh lo lắng đến sống chết của Trương Ngọc, cố gắng đứng dậy, loạng choạng bước về phía trước. Trong lòng hắn cảm thấy kỳ quái, giọng nói vừa nãy rốt cuộc là chuyện gì xảy ra?

Đang đi thì chợt từ dãy nhà phía tây (tây sương) có hai người đi tới. Địch Thanh giật mình, dừng bước không tiến nữa. Hai người này cũng dừng bước, tay đè bên hông.

Hai người này chính là Hạ Tùy và Khâu Minh Hào.

Hai người nhìn thấy Địch Thanh, không hẹn mà cùng nói:

– Địch Thanh, sao lại là ngươi?

Địch Thanh vừa nghe giọng nói của hai kẻ này. Hắn đột nhiên hiểu ra, cả người run rẩy. Hắn cuối cùng cũng biết được, giọng nói thần bí vừa rồi chính là cuộc trò chuyện giữa Hạ Tùy và Khâu Minh Hào.

Hạ Tùy và Khâu Minh Hào cách hắn rất xa, hắn tại sao có thể nghe thấy giọng nói của bọn họ? Trong chuyện này rốt cuộc có điều gì kỳ quái đây? Địch Thanh cảm thấy mơ hồ, nhưng nỗi kinh hãi trong lòng lại càng lớn hơn.

Đây vốn là một cái bẫy, một cái bẫy để lừa Địch Thanh vào chỗ chết.

Hạ Tùy giăng cái bẫy này, muốn mượn tay hai đại Thiên Vương giết Địch Thanh hắn? Hai đại Thiên Vương này là ai? Hạ Tùy và Địch Thanh vốn không quen biết nhau, cớ sao lại muốn tính kế giết hắn?

Chương 14 : Thòng Lọng

Địch Thanh hoang mang không hiểu. Chàng cảm thấy mình như con thú bị nhốt trong lồng. Đây là cái lưới lớn đã được giăng ra từ trước, còn chàng là con cá lớn trong lưới ư?

Thậm chí Địch Thanh bắt đầu hoài nghi, hai đại Thiên Vương kia cũng không phải là phản đồ của Di Lặc giáo, mà giống như là người do Hạ Tùy bố trí mai phục sẵn, nếu không như vậy thì cớ sao Hạ Tùy lại quả quyết rằng chàng phải chết chứ? Nếu chàng mà chết đi rồi, thì chết vào trong tay giáo đồ Di Lặc giáo, sẽ không ai hoài nghi Hạ Tùy!

Lúc này, Địch Thanh vô cùng yếu ớt, chàng ngó thấy tay của Hạ Tùy và Khâu Minh Hào đè lên chuôi đao, trong lòng càng thêm sợ hãi. Trong gió lạnh, ba người nhìn nhau chăm chăm, trong ánh mắt ai cũng chứa đầy vẻ đề phòng. Rốt cuộc Hạ Tùy tiến lên một bước, cất tiếng hỏi:

– Địch Thanh, ngươi có phát hiện ra giáo đồ của Di Lặc giáo không?

Tâm tư rối bời, Địch Thanh đáp:

– Có hai tên…

Khâu Minh Hào lạnh lùng chen vào:

– Ngươi đừng có nói phét, nếu đúng là Tăng Trưởng và Trì Quốc ra tay thì sao ngươi còn có thể đứng ở nơi này?

Địch Thanh giật mình, hỏi ngược lại:

– Tôi không có nói là hai kẻ đó! Sao Khâu bộ đầu lại biết được là ai ra tay chứ?

Trong bóng đêm, sắc mặt Khâu Minh Hào thoáng thay đổi, hắn sầm mặt nạt:

– Người mà chúng ta muốn bắt chính là hai kẻ này, lẽ nào trong Tào phủ còn có người khác ra tay ư?

Địch Thanh rất căm phẫn. Song chàng biết biết mình vừa mới dạo một chuyến quỷ môn quan trở về, liền châm biếm:

– Tăng Trưởng Thiên Vương bị tôi giết chết, có Trương Ngọc và Lý Vũ Hanh tận mắt nhìn thấy. Nếu các người không tin, sao không đến đó mà xem?

Khâu Minh Hào lại biến sắc, tay cầm đao nổi gân xanh. Hạ Tùy lui về phía sau một bước, hét lên thất thanh:

– Ngươi làm sao có thể giết được Tăng Trưởng Thiên Vương chứ?

Địch Thanh làm ra vẻ ung dung nói:

– Hạ chỉ huy tìm tại hạ đến đây, không phải muốn tại hạ bắt giặc sao? Tại hạ may mắn không phụ lòng tin tưởng của chỉ huy.

Khâu Minh Hào nhìn Địch Thanh từ trên xuống dưới, chậm rãi nói:

– Có vẻ như ngươi bị thương không nhẹ!

Hắn lườm Hạ Tùy, ngầm hỏi ý kiến.

Địch Thanh rùng mình. Tuy lúc này chàng rất muốn nằm xuống nghỉ ngơi, nhưng chàng vẫn cố tỏ ra bình tĩnh:

– Chút tổn thương nhỏ nhoi này thì nhằm nhò gì.

Chàng sợ Khâu Minh Hào và Hạ Tùy nhận ra chàng đã đuối sức thì sẽ lập tức vung đao giết chàng.

Ánh mắt Khâu Minh Hào hiện rõ sát tâm, gã vừa định tiến lên thì bỗng có tiếng bước chân từ đằng xa truyền đến, một người chạy rất nhanh đến nói:

– Hạ chỉ huy, không phát hiện tung tích của bọn giặc ở đâu cả!

Khâu Minh Hào thở ra một hơi rồi buông tay cầm đao ra. Người vừa mới tới là Phó đô đầu Vương Khuê của quân Kiêu Vũ. Hạ Tùy chậm rãi lắc đầu, cũng buông lỏng tay cầm đao ra, cau mày hỏi:

– Vậy thì kỳ quái thật! Vừa rồi rõ ràng ta còn thấy dấu vết của bọn chúng. Vương Khuê, mấy nơi khác thì sao?

Hắn nháy mắt với Khâu Minh Hào. Khâu Minh Hào hiểu ý nói:

– Để ta tới chỗ chuồng ngựa kiểm tra.

Vương Khuê lắc đầu đáp:

– Mấy nơi kia đều là kế nghi binh do bọn giặc cố ý bố trí, cũng không có thấy tên giặc nào xuất hiện hết.

Rồi chợt thấy trên người Địch Thanh đầy máu tươi, Vương Khuê kinh ngạc hỏi:

– Địch Thanh, ngươi đánh nhau với bọn chúng à?

Địch Thanh gật đầu đồng thời nhận ra Vương Khuê và Hạ Tùy không phải cùng một giuộc. Vương Khuê đến thật đúng lúc, cứu cho chàng một mạng. Vương Khuê không nhịn được hỏi:

– Bọn chúng là ai?

– Là Tăng Trưởng Thiên Vương và Trì Quốc Thiên Vương của Di Lặc giáo.

Địch Thanh trả lời.

Vương Khuê ngạc nhiên hỏi:

– Bọn chúng không phải đã chết rồi ư? Người cần bắt lần này, chẳng lẽ là bọn chúng sao?

Vẻ mặt Hạ Tùy liền chuyển thành vẻ chế nhạo:

– Người chết biết đâu chừng sẽ sống lại.

Gã nhìn Địch Thanh đầy thâm ý rồi quay qua căn dặn:

– Vương Khuê, ngươi hãy theo ta đến chuồng ngựa tra xét. Nói không chừng còn có thể tìm được chút manh mối nào đó.

Vương Khuê định hỏi tiếp một số chuyện, nhưng nghe Hạ Tùy nói vậy thì đành phải nghe theo. Nhưng bỗng thấy Địch Thanh loạng choạng sắp ngã, hắn ân cần hỏi:

– Ngươi còn đi được không?

Địch Thanh cắn răng trả lời:

– Một chút tổn thương nhỏ thôi, chả thấm vào đâu.

Nghe thấy Địch Thanh trả lời thế, Vương Khuê mới cùng Hạ Tùy rời đi. Lúc này, Địch Thanh cũng đã phục hồi được chút sức lực, chàng không dám ở đây lâu nữa, vội vàng lảo đảo rời khỏi Tào phủ, cả người toát đầy mồ hôi.

Đột nhiên trong Tào phủ vang lên một loạt tiếng “cộc cộc”, tiếp đó có một đám người ùa vào xách nước cứu hỏa. Địch Thanh quay đầu nhìn lại, thấy phía chuồng ngựa lửa cháy ngút trời thì dường như nghĩ đến cái gì đó, miệng nở nụ cười khẩy. Địch Thanh lo cho thương thế của Trương Ngọc, lại thấy nơi đây không thể ở lâu, vội vàng chạy về quân doanh. Chàng bị thương quả thật không nhẹ, dọc đường phải nghỉ ngơi hai lần nữa mới về tới quân doanh.

Vừa vào quân doanh, Triệu Luật liền nghênh đón:

– Địch Thanh, ngươi không sao chứ?

Ngực vô cùng đau nhức, nhưng chàng vẫn không quan tâm tới bản thân mà vội hỏi:

– Trương Ngọc đâu?

Triệu Luật cau mày nói:

– Hắn vẫn còn hôn mê chưa tỉnh. Vận số của các ngươi không tốt, dường như chỉ có nhóm các ngươi là gặp địch.

Địch Thanh âm thầm cười khẩy và càng thêm chắc chắn đây là cái bẫy do Hạ Tùy bố trí ra. Người ngoài thì mơ hồ chứ người trong cuộc như Địch Thanh lại thấy chuyện đã rất rõ ràng. Hạ Tùy muốn giết chàng nên mới có hai lần ‘tình cờ’ gặp gỡ này, và lần nào cũng đều mượn cớ điều chàng đến Tào phủ. Các nơi khác không thấy kẻ địch đâu, chỉ riêng chuồng ngựa là có hai tên sát thủ, không cần hỏi cũng biết, sát thủ đó đã được chuẩn bị sẵn cho chàng đấy. Dĩ nhiên, các nơi khác cũng do Hạ Tùy cố ý bày trận nghi binh. Hạ Tùy giết Địch Thanh rồi thì có thể đổ hết tội cho bọn Di Lặc giáo. Hạ Tùy tính toán rất khéo, nhưng hắn nghìn tính vạn tính cũng không ngờ rằng Địch Thanh lại không chết! Hạ Tùy càng không tính được dù Địch Thanh cách gã rất xa nhưng vẫn có thể nghe thấy được cuộc trò chuyện giữa hắn và Khâu Minh Hào.

Địch Thanh tin chắc rằng bản thân nghe được cuộc trò chuyện ấy, nhưng vẫn còn chút ngờ vực. Vì sao chàng có thể nghe được những âm thanh đó? Vì sao Hạ Tùy muốn giết chàng? Nhớ tới ánh mắt âm trầm lạnh lẽo của Hạ Tùy trước khi đi, Địch Thanh siết chặt nấm đấm. Chàng đang đuổi theo những suy nghĩ trong đầu thì đã đến trước giường Trương Ngọc.

Trương Ngọc nhắm chặt hai mắt. Lý Vũ Hanh đứng chăm sóc ở bên cạnh. Hắn thấy Địch Thanh tới đây thì lập tức đứng dậy:

– Địch Thanh, Trương Ngọc bị thương rất nặng, đại phu nói hắn chưa chắc có thể tỉnh lại….

Địch Thanh nhìn khuôn mặt tái nhợt của Trương Ngọc, lẩm bẩm:

– Hắn chưa chắc có thể tỉnh lại?

Sự phẫn nộ trong lòng chàng càng thêm sâu đậm. Chàng bỗng nhớ tới chuyện đại ca bị đánh trước đây.

Lý Vũ Hanh rất hổ thẹn, mất hồn lạc phách lui về phía sau hai bước, ấp úng nói:

– Ta….Ta.. vô dụng…

Địch Thanh thở dài, vỗ vỗ vai Lý Vũ Hanh:

– Ngươi….

Địch Thanh cũng không biết nên an ủi gã thế nào đây. Hiện giờ lòng chàng cũng rất bất mãn với Lý Vũ Hanh, nhưng thấy gã như thế thì không nỡ nói lời oán trách. Thật lâu sau, Địch Thanh mới nói:

– Ngươi chăm sóc Trương Ngọc cho tốt, ta ra ngoài một lát.

Lý Vũ Hanh ngơ ngác gật đầu. Địch Thanh nhanh chóng rời đi. Nhưng chàng đi chưa được bao xa thì dừng lại, ngồi xuống ngây ngẩn một chỗ. Cho đến khi phía đông đọng sương thì Địch Thanh mới mệt mỏi vươn người đứng dậy quay về quân doanh. Chàng về tới nơi thì Trương Ngọc vẫn chưa tỉnh lại.

Triệu Luật đi tới thấy Trương Ngọc như vậy, cũng phải lắc đầu cảm thán. Hắn biết Địch Thanh bị thương nên bảo Địch Thanh về nhà nghỉ ngơi mấy ngày, trong mấy ngày này không cần phải đi tuần. Địch Thanh gật đầu đáp ứng. Trên đường thả bộ về nhà, lửa giận trong lòng chàng dần dần bốc cao, trong đầu chỉ có một suy nghĩ: “Thù này phải trả!”

Chàng nghĩ cả đêm, rồi cũng thông suốt. Giữa chàng và Hạ Tùy, chỉ có một người có thể sống! Chuyện này dù cho chàng giả bộ không biết gì thì Hạ Tùy nhất định cũng không bỏ qua. Hạ Tùy giết chàng một lần không thành, nhất định còn muốn giết tiếp.

Địch Thanh là chàng trai nhiệt huyết, làm việc coi trọng ân oán rõ ràng. Tuy mấy năm nay tinh thần sa sút, nhưng tính cách vẫn không thay đổi. Hạ Tùy muốn giết chàng thì chàng sẽ ăn miếng trả miếng, điều này là đạo lý hiển nhiên. Khi suy nghĩ về việc báo thù, Địch Thanh quyết định không cần nói chuyện này cho Quách đại ca hay, cũng tuyệt không thể liên lụy huynh ấy! Giết Hạ Tùy, nếu may mắn không chết thì từ nay về sau chàng sẽ lang bạt nơi chân trời góc bể. Nếu như chết đi thì ít nhất cũng phải mạng đổi mạng.

Khóe miệng khẽ nở nụ cười cay đắng, Địch Thanh không ngờ rằng trước đây không phải rơi vào cảnh trốn chạy, nhưng mấy năm sau, chàng vẫn không tránh khỏi có kết cục này. Chẳng lẽ đây là số mệnh sao?

Vừa nghĩ tới cảnh phải lưu lạc nơi chân trời góc bể, tim chàng chợt nhói đau. Trong đầu chàng chợt hiện lên hình ảnh một khuôn mặt thanh lệ thoát tục đang buồn bã. Lần gặp gỡ này hẳn là không có kết quả, chẳng lẽ đây cũng là số mệnh sao?

Địch Thanh lắc lắc đầu, cố xua đi hình ảnh ấy. Chàng chợt cảm thấy ngực mình đau nhức kịch liệt, vạch vạt áo trước ngực ra thì thấy phần ngực hơi lõm vào và còn hằn hai chữ “Ngũ Long”. Chàng chợt ngộ ra. Hóa ra khi cán chĩa sắt đâm vào ngực thì lại trúng ngay vào hắc cầu. Nếu không nhờ hắc cầu này chặn lại thì e rằng chàng đã bị một chĩa kia đâm chết từ lâu.

Trong lòng chợt động, “Lúc ở Tào phủ, thể lực của mình chẳng những hồi phục trong nháy mắt, mà còn dũng mãnh hơn trước mười lần, lẽ nào cũng có liên quan tới vật này ư? Nếu không thì dựa vào điều gì để giải thích việc mình có thể đánh chết được Tăng Trưởng Thiên Vương chứ?” Địch Thanh thầm nghĩ.

Địch Thanh nhìn Ngũ Long, Ngũ Long âm u, không có bất cứ động tĩnh gì.

Hồng long, Kim long, Thiên Vương, Di Lặc… Đủ thứ chuyện kỳ quái nườm nượp kéo đến. Địch Thanh suy nghĩ một lúc lâu nhưng vẫn không tìm ra được điểm mấu chốt. Cuối cùng chàng lại cất Ngũ Long vào trong ngực rồi rời khỏi quân doanh. Tuy chàng có ý định giết Hạ Tùy, nhưng giết như thế nào thì trong lúc nhất thời vẫn chưa thể nghĩ ra.

Trong lòng rầu rĩ, Địch Thanh ngẩng đầu lên thì trông thấy có một quán rượu, chàng quyết định đi vào uống chút rượu giải sầu. Hôm nay kinh thành làm lễ tế tự, dân chúng trong tửu lâu bàn luận xôn xao. Có rất nhiều người dân đã đến gần cửa Chu Tước từ sớm để chờ xem náo nhiệt.

Địch Thanh ngồi gần cửa sổ, nhìn ra ngoài, cả kinh thành mênh mông bát ngát, tuyết đã dừng nhưng gió vẫn thổi mạnh. Ngày tế tự, khí trời vô cùng khắc nghiệt. Nhưng trong khí trời khắc nghiệt này, có một cây mai đỏ tươi vẫn quật cường vươn mình trong gió mạnh, nổi bật trên nền tuyết trắng xoá.

Chàng nhìn cây mai đỏ, đột nhiên nhớ tới tám chữ “Vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung”. Dù cho cả đời phiêu dạt nơi chân trời góc bể chàng cũng không thể nào quên đã từng gặp được nàng ở Biện Kinh, mặc dù ngay cả tên nàng chàng vẫn chưa biết. Nhưng nàng thì sao? Nhiều năm sau, nàng có còn nhớ hay nàng sẽ quên! Địch Thanh nghĩ tới đây, trong lòng lại cảm thấy chua xót. Chàng ngẩn ngơ nhìn cây mai đỏ, giống như gã đần.

Đúng lúc này, ngoài quán rượu có mấy người đi vào, lớn tiếng nói:

– Tiểu nhị, mang đến cho chúng ta mấy chén rượu làm ấm người đi.

Địch Thanh liếc nhìn qua, thấy đám người Lệ Chiến, Tống Thập Ngũ đang đi vào. Đám Lệ Chiến đều là người của quân Kiêu Kỵ, cũng chính là thuộc hạ của Hạ Tùy. Lúc vây công Tào phủ, bọn chúng đều ở bên ngoài. Địch Thanh nhìn thấy bọn chúng thì cảm thấy chán ghét nên quay đầu sang chỗ khác. Đám Lệ Chiến cũng không phát hiện ra Địch Thanh, chúng ngồi xuống rồi chụm đầu nói chuyện, Tống Thập Ngũ nói:

– Tranh thủ đang lúc rãnh rỗi, các vị huynh đệ mau mau làm một vài chén, lát nữa còn phải đi tuần đấy.

Lệ Chiến nói:

– Gấp làm gì? Trong ngoài kinh thành đều có mấy chục vạn cấm quân đóng giữ, chúng ta chỉ canh giữ ngoài thành. Ngươi yên tâm đi, không xảy ra sai sót gì đâu.

Cao Đại Danh đắc ý nói:

– Cho dù có xảy ra sai sót thì sao chứ? Chúng ta đã vất vả cả ngày hôm qua rồi, hôm nay lại phải đi tuần, dù có là người sắt đi nữa cũng phải nghỉ ngơi chớ. Chúng ta uống chút rượu, thì có gì là to tát chứ?

Rượu vừa được đem lên, bọn chúng chưa kịp nhấp môi thì bên ngoài quán rượu có một người chạy vào nói:

– Các ngươi sao còn ở đây uống rượu hả? Hạ chỉ huy đang tìm các ngươi đấy, nhanh lên đi. Hạ chỉ huy nói, hôm nay đi tuần xong sẽ mời các ngươi đến đây nhậu một chầu.

Bọn Tống Thập Ngũ mừng rỡ nói:

– Thơm bơ thật, đêm nay chúng ta nhất định phải làm một bữa không say không về. Được rồi, vậy thì đi thôi.

Sau đó y quay sang gọi ông chủ quán rượu đến, hét lên:

– Tiền rượu này ghi sổ đi, đến tối rồi tính luôn một lượt.

Ông chủ quán rượu cười xòa nói:

– Chào mấy vị quan nhân, tiền rượu này… cứ để đó đi.

Từ trước đến nay, quân Kiêu Kỵ làm mưa làm gió ở kinh thành, ông chủ quán rượu chỉ cầu bọn chúng đừng gây rối, một ít tiền rượu này nào dám đòi chứ.

Chờ bọn người Tống Thập Ngũ rời đi, Địch Thanh rót đầy một chén rượu, khóe miệng nở nụ cười lạnh, lẩm bẩm nói:

– Đêm nay không say không về?

Chàng vẫn luôn lo nghĩ làm cách nào để thịt được Hạ Tùy. Giờ nghe vậy, chàng âm thầm tính toán, nếu như đêm nay bọn người Hạ Tùy uống say bí tỉ, vậy thì chàng có cơ hội ra tay rồi.

Địch Thanh nghĩ tới đây, trong lòng phấn chấn hẳn ra. Chàng ngẩng đầu nhìn cây mai đỏ đang rung động nổi bật trên nền tuyết trắng. Chàng bỗng thất thần, qua đêm nay, bất kể sống hay chết, e rằng cả đời này sẽ không còn gặp được nàng nữa. Địch Thanh sững người nhìn cây mai. Không biết qua bao lâu, chàng tính tiền rượu rồi lững thững đi đến ngõ Mạch Kiết.

Lúc này, triều đình đại tế, muôn người đều đổ xô ra đường. Tuy là ban ngày nhưng ngõ Mạch Kiết vẫn âm u và thanh vắng như ban đêm. Địch Thanh đến ngõ Mạch Kiết, gió thổi vù vù, tuyết trắng bay bay, hoa mai ngạo tuyết, nhưng người trong mộng thì không thấy đâu. Địch Thanh đứng ở trước gốc mai, thấy dưới tán cây có dấu chân ngổn ngang, dấu chân không chỉ của một người. Chàng cẩn thận tìm dấu chân nhỏ nhắn ấy, qua một lúc lâu, chàng chậm rãi ngồi xổm xuống, tiếp đó nhặt lên một cánh hoa tàn. Địch Thanh thầm nghĩ hoa đã tàn, chữ viết đã mất đi, tất cả mọi thứ đều đã là quá khứ.

Dù nghĩ như thế nhưng lòng chàng lại dâng trào đau thương, rút đao ra gạt bằng một mảnh đất tuyết. Chàng muốn để lại vài chữ cho nàng. Sau khi suy nghĩ một lúc, Địch Thanh chỉ viết được hai chữ “Bảo trọng”. Chàng ngẫm lại: “Có lẽ nàng cho rằng mình không tới, có lẽ nàng sẽ không thấy hai chữ này đâu. Thế nhưng… Mình biết mình nghĩ gì là được rồi, cần gì phải quan tâm tới nàng nghĩ gì làm chi?”

Chàng lại trầm ngâm, ngắm hai chữ trên mặt tuyết thật lâu. Sau đó, chàng đột nhiên ngửa mặt lên trời cười như điên dại, trong tiếng cười mang theo vẻ cô đơn hiu quạnh vô tận.

chàng xoay người định đi, nhưng nụ cười bỗng đanh lại trên môi, cả người run rẩy.

Chỉ thấy cô gái mà chàng trăm thương ngàn nhớ chẳng biết đã đứng trước mặt từ khi nào rồi. Mấy ngày không gặp, nàng vẫn xinh đẹp tuyệt thế như trước nhưng lại có chút tiều tụy. Khoảnh khắc trông thấy Địch Thanh, ánh mắt nàng ngời sáng nhưng không thể thốt lên lời nào.

Địch Thanh si ngốc nhìn nàng, trong khoảnh khắc này chàng không biết làm sao cho phải. Nàng nhìn Địch Thanh từ trên mặt xuống tới cổ tay rồi hoảng sợ la lên:

– Huynh bị thương?

Đến lúc này, Địch Thanh mới cảm thấy có chút đau đớn, không phải đau ở cổ tay đâu, mà là ở ngực. Chàng gượng cười nói:

– Những người như huynh đây, cả ngày đánh đấm, không bị thương mới là lạ.

Trong mắt nàng chợt hiện lên vẻ thương cảm. Nàng bước tới định băng bó vết thương cho chàng, nhưng Địch Thanh vội lùi về phía sau một bước nói:

– Không cần đâu, cám ơn cô.

Chàng đã quyết định phải giết Hạ Tùy, và sau đó chàng sẽ chạy trốn tới nơi chân trời xa xăm nên chỉ mong nàng hãy quên chàng đi. Chàng vốn định lấy chiếc khăn lụa bấy lâu nay vẫn cất giữ trong ngực ra trả lại cho nàng, nhằm cắt đứt lòng quan tâm của nàng. Chàng nhận ra nàng thích chàng, còn vì sao mà thích thì thật sự không biết. Nhưng chiếc khăn lụa này là vật duy nhất mà nàng trao cho chàng, sao nỡ trả lại cho được?

Cô gái thấy Địch Thanh bỗng trở nên lạnh lùng. Ánh mắt liền lộ vẻ kinh ngạc, nàng định hỏi gì đó nhưng khi cúi đầu xuống thì vừa vặn nhìn thấy hai chữ do đao khắc trên mặt đất kia.

Cô gái không nói, cũng không ngẩng đầu lên. Địch Thanh nhìn thấy hai giọt nước nhiễu xuống mặt tuyết, lộ ra hai điểm mờ nhạt, gió thổi qua không dấu vết, nhưng nước mắt chảy qua thì sao chứ? Đau lòng thấu xương. Thấy nàng đau lòng, chàng rất áy náy. Vốn định an ủi vài câu, song chàng biết nếu làm vậy thì chỉ thêm khó xử, nên kiên quyết nói:

– Trời lạnh, cô mau về đi.

Thanh âm này lạnh lùng như băng nhưng ẩn chứa sự ân cần như lửa.

Cô gái buồn bã hỏi:

– Huynh muốn đi ư?

– Ừm.

Cô gái hỏi tiếp:

– Không bao giờ trở về nữa?

– Đúng. Mượn đường, xin tránh giùm cho.

Kiềm chế giọt lệ chực trào ra, nàng bước tránh sang bên. Rồi đột nhiên nàng ngẩng đầu lên, nhìn thấy vầng trán Địch Thanh chứa đựng nỗi ưu sầu vô hạn thì chợt hiểu ra, bước chân vì thế trượt đi, nàng lảo đảo sắp ngã đến nơi. Địch Thanh thấy thế vội vàng vươn tay đỡ lấy. Nắm chặt cổ tay nhỏ bé, mịn màng, lạnh lẽo trong tay, thân thể chàng chợt run lên. Sau khi đứng vững, nàng nhỏ giọng nói:

– Cám ơn. Huynh …. cũng bảo trọng.

Nhìn thấy giọt nước mắt trong suốt của nàng, Địch Thanh sững sờ. Gió lạnh như đao cắt, chàng không nỡ để cô gái chịu lạnh thêm nữa nên kiên quyết nói:

– Ừ.

Rồi không quay đầu lại chàng sải bước rời đi, trong tai vẫn còn văng vẳng giọng nàng thầm thì: “Phiếm bỉ Bách chu, diệc phiếm kỳ lưu.” Địch Thanh thoáng dừng lại, lời nàng nghe như là thơ. Bước chân chỉ chậm lại trong chốc lát liền tăng tốc rời đi, sau cùng còn nghe thấy nàng nói: “Cảnh cảnh bất mị, như hữu ẩn ưu.”

(Tạm dịch: bập bềnh như thuyền gỗ Bách, nổi trôi theo dòng nước chảy, trong lòng canh cánh không ngủ được, như có ưu sầu trong lòng.- Thuyền Bách dập dềnh, trên dòng lênh đênh, bâng khuâng không ngủ, chất chứa ưu phiền)

Địch Thanh đã đi xa, nhưng bốn câu kia vẫn còn quanh quẩn trong đầu chàng: “Phiếm bỉ Bách chu, diệc phiếm kỳ lưu. Cảnh cảnh bất mị, như hữu ẩn ưu.” Chàng biết bài thơ đó miêu tả một người đang ưu sầu, nhưng rốt cuộc nàng muốn nói tới chàng hay là nói bản thân nàng đây? Địch Thanh nghĩ mãi mà không rõ. Chàng tăng tốc bước nhanh trở về Quách phủ mà như đang chạy trốn.

Quách Quỳ không có ở trong phủ, Quách Tuân cũng không thấy đâu. Địch Thanh hơi thất vọng.

“Nếu như có Quách Quỳ ở đây, mình có thể hỏi xem câu thơ kia có nghĩa là gì, nếu như có Quách Tuân ở đây, mình cũng có thể cám ơn Quách đại ca đã cưu mang mình bấy lâu nay”. Nhưng chàng lại chợt nghĩ: “Biết thì sao nào? Cám ơn thì sao nào? Biết rồi chỉ tăng thêm phiền não, loại tình huynh đệ thâm sâu này, làm sao có thể chỉ một lời cám ơn là xong được?”

Địch Thanh ngồi ở trước phòng ngủ một giấc nhằm khôi phục thể lực, khi tỉnh dậy thì đã sắp hoàng hôn.

Địch Thanh không chuẩn bị hành lý. Chàng rút đao đem đi mài ở một tảng đá nhám thật lớn. Đến khi đao được mài bóng loáng ánh lên vẻ băng lãnh thì chàng bỗng lẩm bẩm nói: “Đao à! Đêm này ta đành phải trông cậy vào mi, sau này bỏ mạng cũng chỉ có mi theo cùng…” Nhìn thấy trời đã nhá nhem tối, chàng thu đao vào vỏ, cẩn thận sửa sang lại trang phục. Nhằm khi xuất chiêu được dứt khoát gọn gàng, chàng không mang theo hành lý .

Trăng non đã lên, Địch Thanh đội mũ mềm, sải bước rời khỏi Quách phủ. Chàng tìm đại một quán rượu ngồi xuống ăn nửa cân thịt dê, lại nốc thêm hai cái bánh bao, sau đó đến nơi mà lúc sáng chàng từng uống rượu. Chàng kéo mũ mềm xuống thấp định vào do thám tình hình, nhưng chưa kịp tiến vào quán rượu thì đã nghe thấy tiếng người trò chuyện ồn ào ở phía đằng xa. Địch Thanh lật đật lách mình vào một góc tối. Chàng thấy Hạ Tùy dẫn theo bảy tám người đi tới, bọn người Tống Thập Ngũ, Lệ Chiến, Cao Đại Danh, Uông Minh Đô đều có đủ và có thêm mấy người lạ mặt, song không thấy Khâu Minh Hào đâu cả. Địch Thanh cảm thấy hơi yên tâm, thầm nghĩ: “Thiếu Khâu Minh Hào thì đối phó với tên Hạ Tùy uống say mèm này càng thêm nắm chắc mấy phần.”

Hạ Tùy lớn lối nói:

– Mấy ngày nay, các huynh đệ đã khổ cực nhiều, đêm nay cứ uống thoải mái đi, không say không về. Con mẹ thằng nào không uống thả ga, lão tử tuyệt không tha cho chàng!

Mọi người vỗ tay hoan hô vang trời. Địch Thanh mừng thầm trong lòng, thầm nghĩ: “Cả đám rùa các ngươi uống càng nhiều càng tốt”. Chàng đứng ở một góc nhỏ khuất gió dán mắt nhìn về phía quán rượu.

Gió rét lạnh lẽo, trăng mờ không sáng.

Qua khoảng một canh giờ, nơi quán rượu vẫn ồn ào náo nhiệt, Địch Thanh lắc lư thân thể có chút tê dại, mở to mắt nhìn sang. Trong bóng đêm, đèn đóm trong quán rượu càng thêm sáng ngời. Hạ Tùy đã uống say mèm, được hai tên thuộc hạ dìu ra khỏi quán rượu, hai tên này bước đi cũng xiêu vẹo, thỉnh thoảng cả ba lại té ầm xuống mặt tuyết. Không những Hạ Tùy không nổi giận mà còn hét lớn:

– Tiếp tục uống nào, không uống là đồ con nít.

Rồi hắn nấc lên như muốn ói, nhưng ụa ọe mấy lần vẫn không phun ra được gì sất.

Địch Thanh thấy thế thì mừng rỡ, nghĩ thầm: “Mấy tên này đều đã uống say. Ha ha, là ông trời có mắt, cho mình cơ hội để báo thù rửa hận.”

Tay đặt lên chuôi đao, Địch Thanh vừa định lao ra kết liễu Hạ Tùy thì đột nhiên có một bàn tay ấn vai chàng xuống. Bàn tay này cực kỳ chắc khỏe, đặt ở trên vai Địch Thanh nặng hơn ngàn cân.

Địch Thanh kinh hãi, cho rằng có kẻ địch ở sau lưng tập kích. Chàng lập tức thúc mạnh khủy tay thẳng vào ngực kẻ đó rồi bước tới trước hai bước, sau đó xoay người định rút đao. Không ngờ người sau lưng bị Địch Thanh thúc mạnh mà vẫn điềm nhiên như không. Trái lại, gã còn cất bước lao tới bắt lấy cổ tay của Địch Thanh, thấp giọng nói:

– Là huynh.

Địch Thanh cảm thấy cổ tay mình như bị còng sắt kẹp vào, giật mình kinh hãi, nhưng khi nghe thấy giọng nói đó thì định thần nhìn lại, lập tức cả kinh hỏi:

– Quách đại ca, sao lại là huynh?

Người vừa đến chính là Quách Tuân!

Quách Tuân nghiêm mặt không trả lời. Gã đưa tay kéo Địch Thanh đi sâu vào trong ngõ nhỏ. Địch Thanh quay đầu nhìn lại, thấy bọn người Hạ Tùy đã dần đi xa thì không khỏi khẩn trương. Nhưng mà bị Quách Tuân kéo đi, chàng đành trơ mắt nhìn Hạ Tùy rời đi. Đợi qua hẻm tối, đến đầu đường bên kia, Quách Tuân lúc này mới buông tay ra, lạnh lùng hỏi:

– Đệ tới đây làm gì?

Địch Thanh do dự một chút, cuối cùng nói:

– Giết Hạ Tùy.

– Vì sao?

Quách Tuân dường như đã đoán ra được.

Địch Thanh căm hận nói:

– Vì hắn muốn giết đệ, nếu không phải may mắn, tối qua đệ đã chết rồi.

Quách Tuân nhìn con đường dài thê lương nói:

– Không phải lúc nào cũng may mắn.

– Đúng thế, may mắn không phải lúc nào cũng có, cho nên đệ phải nắm chắc cơ hội lần này. Quách đại ca, đệ biết huynh muốn tốt cho đệ. Nhưng nếu đệ không giết Hạ Tùy, sớm muộn gì hắn cũng sẽ ra tay với đệ. Đệ không muốn làm huynh khó xử, cũng không muốn huynh can dự vào chuyện này. Lần này, sau khi đệ giết hắn xong, đệ sẽ phiêu bạt nơi chân trời góc bể, huynh cứ coi như là…. chưa từng có người huynh đệ như đệ! Đệ van huynh đó!

Chàng xoay người muốn đi, Quách Tuân cười gằn:

– Huynh chỉ ngăn đệ một lần. Nhưng nếu đệ ngoan cố muốn đi tìm cái chết, huynh cũng đành bó tay.

Địch Thanh rùng mình, dừng lại hỏi:

– Sao huynh nói vậy?

Quách Tuân đáp:

– Đệ có biết tửu lượng của tên Hạ Tùy này cực mạnh không? Huynh chưa từng nhìn thấy hắn uống say bao giờ.

Lòng Địch Thanh trầm xuống, hít sâu một hơi hỏi:

– Vậy hôm nay hắn…..?

Quách Tuân thản nhiên:

– Hôm nay, hắn dẫn theo ba tên cao thủ, hơn nữa còn giả vờ say, nếu đệ đi thì ngủm củ tỏi là cái chắc.

Địch Thanh giống như bị một chậu nước lạnh tạt vào. Cả người chàng rét run:

– Hắn vờ say, cớ gì hắn muốn giả vờ say?

Quách Tuân cười lạnh:

– Đơn giản thôi, hắn đang ngồi câu cá đấy. Hắn đợi tên ngu ngốc nào đó cho rằng hắn đã uống say mà xông tới giết hắn, sau đó hắn sẽ giết tên ngu ngốc đó đi.

Địch Thanh ứa mồ hôi lạnh. Bây giờ chàng mới nhận ra việc chạm mặt với bọn người Tống Thập Ngũ không phải là trùng hợp, chuyện Hạ Tùy say rượu cũng là một cái bẫy. Thì ra tất cả mọi chuyện đều là do Hạ Tùy sắp đặt, nếu chàng không hiểu rõ ngọn nguồn mà xông đến ám sát, nói không chừng đã bị Hạ Tùy giết chết tại trận.

Địch Thanh được mấy câu nói của Quách Tuân đề tỉnh, nhưng trong lòng chàng vẫn còn nghi hoặc, không nhịn được hỏi:

– Quách đại ca, làm sao huynh biết Hạ Tùy bày ra kế này để giết đệ?

Quách Tuân nói:

– Huynh đã hỏi đám người Vương Khuê, Triệu Luật, Lý Giản. Huynh cảm thấy chuyện bắt loạn đảng trong Tào phủ có vấn đề. Vừa rồi huynh thấy đệ nghiến răng nghiến lợi, còn Hạ Tùy thì giả bộ say rượu. Huynh tổng hợp mấy cái này lại liền biết rõ mọi chuyện. Hạ Tùy muốn giết đệ, hắn cũng không thể biết chắc đệ có đoán ra được hay không, vì thế hắn muốn bố trí cái thòng lọng này để dẫn dụ đệ. Nếu đệ mắc câu thì rõ ràng chỉ có con đường chết. Nếu đệ không mắc câu, hắn sẽ cho rằng đệ không nhìn ra kẽ hở nên tạm thời sẽ không ra tay nữa.

Địch Thanh phẫn nộ nói:

– Hắn không ra tay thì sao chứ? Hắn muốn giết đệ, chẳng lẽ đệ cứ nhẫn nhịn như vậy sao?

Quách Tuân tỏ ra cảm thông, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Thực lực của đệ không đủ, không nhẫn nhịn thì có thể làm được gì chứ? Chẳng lẽ đưa đầu ra cho người ta thịt sao?

Địch Thanh thở ra một hơi, chậm rãi nói:

– Vâng, đệ…nhịn!

Chàng thầm nghĩ: “Loại chuyện không chứng không cứ này, mình đã liên lụy Quách đại ca quá nhiều nên không thể nhờ Quách đại ca giúp đỡ nữa, đã vậy rồi thì mình đành phải chờ cơ hội tiếp theo.”

Chàng chôn thù hận vào lòng, vẻ mặt trở nên bình tĩnh hơn. Phải hứng chịu uất ức nhiều năm, tên thôn quê lỗ mãng này đã được tôi luyện dần dần trở nên thâm trầm hơn.

Quách Tuân nhìn Địch Thanh một lúc rồi nói:

– Hãy theo huynh.

Gã sải bước về phía trước, rồi lách vào một con đường, tìm quán rượu ngồi xuống.

Trời đông giá rét, quán rượu này đã sớm không còn người khách nào. Trong quán chỉ có một ngọn đèn dầu hiu hắt như trăng, một lão già nhìn ngọn đèn, lẳng lặng chờ đợi. Có thể lão đang đợi khách, mà cũng có thể lão đang ngồi đếm tuổi già. Người giống như lão đây, bây giờ xem ra chỉ có nước ngồi chờ đợi, chờ đến lúc kết thúc cõi đời này.

Nghe tiếng bước chân, lão đứng dậy nghênh đón:

– Quách quan nhân, ngài đã đến. Như cũ sao?

Hóa ra ông lão này đã sớm quen biết Quách Tuân.

Trên mặt ông lão này có một vết sẹo dài cắt ngang qua hàng chân mày, dung mạo có chút quái dị, lão bị thọt một chân. Địch Thanh nhìn thấy bỗng nghĩ đến đại ca Địch Vân của mình, trong lòng liền nảy sinh đồng cảm.

Quách Tuân gật đầu nói:

– Làm phiền Lưu lão tía. Muộn như vậy rồi mà còn mở cửa sao?

Nếp nhăn trên mặt của Lưu lão tía như đao khắc. Lão nghe vậy thì cười nói:

– Lão lo là ngài không đến làm phiền lão. Người già rất khó ngủ, hiếm khi có người tới đến đây nói chuyện với lão. Vị tiểu ca này là bạn của ngài sao?

Quách Tuân gật đầu nói:

– Ừ, hắn là Địch Thanh.

Lưu lão tía “A” lên một tiếng rồi nhìn Địch Thanh đăm đăm, sau đó hỏi:

– Như cũ sao?

Quách Tuân gật đầu, đáp gọn lỏn:

– Hai phần.

Lưu lão tía không nhiều lời nữa. Lão bước tập tễnh ra phía sau. Chỉ chốc lát sau lão đã bưng ra mấy đĩa đồ kho và hai bầu rượu. Sau đó, lão lặng lẽ rời đi, như thể đã thành thói quen.

Địch Thanh nhịn không được hỏi:

– Quách đại ca, huynh thường đến đây sao?

Quách Tuân gật đầu, nâng bầu rượu lên rót đầy chén. Gã tự rót tự uống, vẻ mặt đăm chiêu, giống như đang suy nghĩ gì đó. Địch Thanh thấy Quách Tuân như thế, chợt có cảm giác như Lưu lão tía là đang đợi Quách Tuân, do đó mới không chịu đóng cửa sớm. Rõ là Quách Tuân thường xuyên đến đây, Địch Thanh nhìn mấy đĩa đồ kho, một bầu rượu, nghĩ tới Quách Tuân uống rượu một mình trong đêm đông. Chàng lại cảm thấy Quách đại ca rất cô đơn và đầy tâm sự.

Nhưng Địch Thanh không phải cũng đầy tâm sự sao? Chàng tự rót cho mình một chén rượu, nhấp một hớp thì cảm thấy miệng đắng chát.

Quách Tuân đặt chén rượu xuống, đột nhiên nói:

– Hôm nay trước khi tế tự, thiên tử vẫn quyết định dẫn văn võ bá quan đến điện Hội Khánh, trước là chúc thọ cho Thái Hậu, sau đó mới đến điện Thiên An tiếp nhận triều bái của triều thần.

Địch Thanh nhớ lại những lời trước đây mà Quách Tuân đã nói, nhíu mày hỏi:

– Lẽ nào Thái Hậu chuẩn bị xưng đế thật ư?

Quách Tuân tránh không đáp vấn đề này, kể tiếp:

– Trước đó vài ngày, Phạm Trọng Yêm và Tống Thụ đều bị cách chức đuổi khỏi kinh thành.

Địch Thanh lẩm bẩm nói:

– Bọn họ vì kiến nghị Thái Hậu trao trả triều chính cho thiên tử nên mới chọc giận Thái Hậu ư? Tuy nhiên, chuyện này có quan hệ gì với đệ chứ?

Quách Tuân nhìn thẳng vào Địch Thanh, chậm rãi nói:

– Chuyện huynh sắp nói cho đệ biết lại có quan hệ rất lớn với đệ. Hạ Tùy vốn là người của Thái Hậu.

Trong đầu Địch Thanh bỗng có tia điện xẹt qua, nghẹn lời hỏi:

– Hắn rắp tâm muốn giết đệ cho bằng được, lẽ nào là vì chuyện Mã Trung Lập sao?

Quách Tuân nhấc chén rượu lên, trầm mặc không nói gì. Trầm mặc có đôi khi đại biểu cho đồng ý.

Địch Thanh rốt cuộc hiểu rõ hết thảy ngọn nguồn, tim đập thình thịch.

Quách Tuân uống cạn chén rượu, nói tiếp:

– Vậy là đệ đã hiểu rồi, bản án của đệ mặc dù đã chấm dứt, nhưng chuyện đó vẫn chưa xong đâu. Hạ Tùy là người của Thái Hậu, lần này giết đệ quá nửa là trút giận cho Mã Quý Lương.

Ánh mắt gã lấp lánh như có gì muốn nói nhưng lại thôi.

Địch Thanh không chú ý tới sự khác thường của Quách Tuân, tay cầm chén nổi rõ gân xanh, nói:

– Đệ đã hiểu….

– Đệ đã hiểu nhưng huynh lại có chuyện không hiểu.

Trong mắt Quách Tuân hiện lên vẻ uy nghiêm, trầm giọng hỏi:

– Sao đệ lại có bản lĩnh giết Tăng Trưởng Thiên Vương thêm lần nữa chứ?

Ánh mắt Quách Tuân sáng quắc, Địch Thanh không thẹn với lương tâm, cười khổ nói:

– Đệ không biết.

– Đệ không biết?

Quách Tuân chau mày hỏi:

– Sao đệ lại không biết?

Địch Thanh do dự một lúc. Sau đó chàng thò tay vào trong ngực móc Ngũ Long ra đặt lên bàn, khó xử nói:

– Đệ thật sự không biết, Quách đại ca, đệ …. e rằng vật này đang tác quái.

Chàng căn bản không biết giải thích như thế nào và cũng cho rằng Quách Tuân sẽ không tin lời giải thích của chàng. Không ngờ khi Quách Tuân nhìn thấy Ngũ Long, đột nhiên biến sắc. Gã run giọng hỏi:

– Sao Ngũ Long lại ở trong tay đệ?

Vào thời khắc này, trong mắt Quách Tuân đầy vẻ kinh hãi, ngạc nhiên, còn có hoang mang; thậm chí xen lẫn cả hoảng sợ. Địch Thanh thấy thế thì khó hiểu, lắp bắp hỏi:

– Quách đại ca, huynh đã gặp qua vật này?

Một tiếng “rốp” vang lên, chén rượu trong tay Quách Tuân đã bị bóp nát, nhưng dường như gã vẫn chưa biết, lẩm bẩm nói:

– Di Lặc sinh ra, tân Phật độ kiếp. Ngũ Long xuất thế, lệ rơi không ngừng! Ngũ Long này ….. rốt cuộc đã xuất thế. Chẳng lẽ… lời hắn nói là thật ư?

Địch Thanh thấy Quách Tuân lặp lại y như đúc lời của Đa Văn Thiên Vương năm đó thì sợ hãi nói:

– Quách đại ca, huynh sao thế?

Chàng lại nghĩ thầm: “Không biết ‘hắn’ mà Quách đại ca vừa nói là ai?”

Quách Tuân cuối cùng phục hồi lại tinh thần, nhìn chòng chọc vào Ngũ Long trên bàn, thật lâu sau mới vươn tay ra, nhẹ nhàng đụng vào. Gã lại lộ ra vẻ hoang mang, nhỏ giọng hỏi:

– Địch Thanh, sao đệ lại có được viên Ngũ Long này?

Tuy Địch Thanh ngạc nhiên trước phản ứng của Quách Tuân nhưng chàng vẫn mang mọi chuyện xảy ra lúc trước kể lại một lần, từ lâu chàng đã xem Quách Tuân như người thân. Chàng đã giấu chuyện này rất lâu, trừ Quách Tuân ra thì chàng chưa từng nói cho ai khác biết.

Vẻ mặt Quách Tuân đăm đăm, như là nghiêm túc lắng nghe, lại như là căn bản không nghe thấy lời Địch Thanh nói. Địch Thanh nói xong, thấy Quách Tuân như mất hồn lạc phách, chàng không nhịn được hỏi:

– Quách đại ca, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Tất cả… là ảo giác của đệ? Hay là do Ngũ Long này thật sự…có điều quái dị?

Quách Tuân lấy lại bình tĩnh, chần chừ đáp:

– Ngũ Long này…vốn là vật của tiên đế.

Địch Thanh hoảng hốt hỏi:

– Đây là vật của Chân Tông?

Quách Tuân bối rối nhìn ngọn đèn dầu, ngọn đèn lúc sáng lúc tối rọi vào làm sắc mặt Quách Tuân cũng thay đổi liên tục. Thật lâu sau, Quách Tuân mới thấp giọng nói:

– Thật ra thì huynh cũng không dám khẳng định. Lúc tiên đế tại vị, huynh là Ngự Tiền thị vệ. Có một đoạn thời gian, huynh thấy ông ấy cả ngày cầm Ngũ Long này trầm ngâm không nói lời nào.

Địch Thanh trợn mắt há hốc mồm hỏi:

– Nếu là vật của tiên đế thì sao lại giấu ở trên thân tượng phật Di Lặc? Nếu là vật của tiên đế thì sao Đa Văn Thiên Vương có thể biết vật này giấu ở đâu? Bốn câu nói kia rốt cuộc là có ý gì? Quách đại ca, huynh biết được những gì vậy?

Quách Tuân thở dài nói:

– Thật lòng huynh cũng hy vọng mình có thể biết.

Gã lại có chút thất vọng, đột nhiên tóm lấy tay Địch Thanh nói vội:

– Địch Thanh, huynh chỉ biết viên Ngũ Long này là vật chẳng lành. Đệ vứt nó đi, được không?

Địch Thanh ngẩn ra, ngạc nhiên hỏi:

– Tại sao?

Chàng chưa bao giờ cảm thấy Ngũ Long có gì chẳng lành. Ngược lại, ở trong suy nghĩ của chàng, Ngũ Long đang không ngừng giúp chàng.

Khóe miệng Quách Tuân giật giật, trong mắt hiện ra vẻ xót xa khó nói nên lời, hồi lâu mới đáp:

– Đệ đừng hỏi, huynh cũng không biết.

Địch Thanh chồm tới chụp lấy Ngũ Long, lắc đầu nói:

– Quách đại ca, đệ không thể vứt nó đi, huynh đừng bức đệ!

Thân thể Quách Tuân chấn động. Gã đứng bật dậy, cả người run rẩy, ánh mắt trở nên cực kỳ sắt bén, thậm chí còn kèm theo mấy phần dữ tợn.

Địch Thanh nhìn thấy vẻ mặt đáng sợ của Quách Tuân, trong nhất thời cũng biến sắc.

Ánh đèn lập lòe, cơ nhục trên mặt Quách Tuân hơi co giật, trầm giọng nói:

– Vì sao đệ không chịu vứt nó đi?

Trong cơn thống khổ vừa xen lẫn bất an, rốt cuộc gã đã mất đi sự bình tĩnh thường ngày.

Địch Thanh nói rành mạch từng chữ:

– Nếu không nhờ nó, lúc đó đệ đã chết trong tay Tăng Trưởng Thiên Vương rồi!

Quách Tuân chấn động, khôi phục lại tỉnh táo, chậm rãi ngồi xuống, lẩm bẩm nói:

– Nếu đệ không có nó…nói không chừng…

Gã nhìn thấy Địch Thanh đầy kích động, cuối cùng thở dài một hơi, không nói gì thêm nữa.

Địch Thanh rất đỗikỳ quái, thầm nghĩ: “Quách đại ca muốn nói điều gì? Nếu mình không có nó, nói không chừng cái gì?”

Quách Tuân nhấc bầu rượu lên, chậm rãi rót đầy chén rượu, dần dần bình tĩnh trở lại. Gã thầm nhủ: “Ngũ Long lại xuất thế, lẽ nào lời tiên đoán của người đó là thật ư? Nếu là thật thì Địch Thanh sẽ có việc gì không? Với mình, Ngũ Long là tai họa, nhưng trong cảm nhận của Địch Thanh thì sao? Mấy năm nay, tinh thần đệ ấy sa sút chán nản, hiếm khi thích vật nào đó, mình sao đành tâm mà bảo đệ ấy vứt nó đi chứ? Đại Tướng Quốc Tự bị hủy, tượng phật Di Lặc hư hại, Thái Hậu tức giận vốn là vì viên Ngũ Long này. Thái Hậu rốt cuộc biết những gì? Đa Văn Thiên Vương rốt cuộc là ai? Làm sao hắn biết được tung tích của Ngũ Long? Tại sao Bất Không của Thổ Phiên cũng muốn có được Ngũ Long?”

Tất cả những chuyện đó đã trở thành khúc mắc khó giải ở trong lòng Quách Tuân.

Hồi lâu sau Quách Tuân mới nói:

– Tiên đế tín thần. Năm xưa, cả nước tín thần tu đạo, có lẽ đệ cũng biết?

Địch Thanh gật đầu:

– Đó là chuyện cười xảy ra nhiều năm trước. Cho dù chúng đệ ở thôn quê, cũng đều nói Chân Tông rất hồ đồ, lừa mình dối người.

Quách Tuân mỉm cười nói:

– Trước đây, tiên đế nói trời ban điềm lành, thần tiên truyền thụ cho ông ấy thiên thư, chuyện này quả thật có rất nhiều người không tin. Nhưng tiên đế dù sao vẫn là quân vương, nếu không có chút kỳ dị thì sao ông ta lại si mê đến thế? Huynh biết, Ngũ Long này chính là vật mà thần cho y.

Địch Thanh run rẩy:

– Thần? Có thần thật sao? Làm sao có thể chứ?

Quách Tuân không đáp, tiếp tục nói:

– Thái Hậu cũng không tin những gì Chân Tông nói, vả lại còn cực kỳ căm ghét thiên thư gì đó của Chân Tông. Sau khi Chân Tông tạ thế, Thái Hậu đem tất cả những thứ thuộc về Chân Tông phong kín vào trong lăng Vĩnh Định. Lúc đầu huynh cũng tưởng Ngũ Long cũng được cất giấu vào lăng Vĩnh Định, giờ nghe lời đệ nói, huynh mới biết được năm đó Thái Hậu giấu Ngũ Long trong tượng phật Di Lặc. Không ngờ ý trời sâu xa, đệ đụng bậy đụng bạ mà lại có được nó.

Địch Thanh hỏi:

– Vậy bốn câu “Ngũ Long xuất thế” kia, nghĩa là gì?

Quách Tuân nói:

– Đây vốn là lời sấm của một vị ẩn sĩ. Năm đó, Thái Hậu từng đem chuyện Ngũ Long hỏi vị ẩn sĩ kia, ẩn sĩ đó liền đọc ra bốn câu sấm này. Cụ thể có ý gì, e rằng trừ vị ẩn sĩ đó ra, không ai biết được.

– Ẩn sĩ đó là ai?

Quách Tuân trầm mặc một lúc rồi nói:

– Y là Thiệu Ung, nghe đâu y là đồ tôn của Trần Đoàn, được đệ tử Lý Chi Tài của Trần Đoàn chân truyền.

Địch Thanh nhịn không được hỏi:

– Trần Đoàn? Chính là vị thần tiên luận cờ với Thái Tổ ở Hoa Sơn sao?

Quách Tuân gật đầu nói:

– Đúng vậy, đồn rằng Trần Đoàn giống như thần tiên. Khi đó, Thái Tổ nhờ được Trần Đoàn chỉ điểm nên mới có thể từ một tên cấm quân tầm thường lập nên nghiệp lớn. Y và Thái Tông dựa vào bốn nắm tay và hai côn đánh hạ bốn trăm châu của Đại Tống.

Thấy Địch Thanh muốn nói lại thôi, Quách Tuân hỏi:

– Đệ có lời gì muốn nói sao?

Địch Thanh do dự nói:

– Năm đó, thuật sĩ xem mệnh cho mẹ đệ, cũng chính là Trần Đoàn.

Quách Tuân chấn động, thất thanh hỏi:

– Trần Đoàn nói mẹ đệ có thể sinh ra được tể tướng?

Địch Thanh gật đầu, trầm mặc một lúc rồi nói:

– Điều này chỉ là nói bậy nói bạ thôi, rõ ràng không thể coi là đúng được. Đệ là cái gì chứ? Sao lại có số mạng làm tể tướng chứ?

Quách Tuân liếc nhìn Ngũ Long, trong lòng cực kỳ phức tạp, hình như đang suy nghĩ gì đó, hồi lâu mới nói:

– Có lẽ đây là ý trời a…

Địch Thanh khó hiểu hỏi:

– Quách đại ca, huynh nói cái gì là ý trời vậy?

Quách Tuân cười gượng nói:

– Ý trời cho phép đệ có được Ngũ Long, nhưng nếu đệ không vứt nó đi, sau này đừng có hối hận.

Trong vẻ mặt trầm trọng của gã còn mang theo phần bất đắc dĩ, nhưng không khuyên Địch Thanh vứt bỏ Ngũ Long nữa.

Địch Thanh nghiêm giọng nói:

– Chuyện đệ làm, tuyệt không hối hận.

Quách Tuân chậm rãi đứng dậy, thoạt nhìn lòng đầy tâm sự. Gã thở dài một hơi, nói:

– Huynh phải đi làm chuyện khác trước đây. Lần này, đệ không đến giết Hạ Tùy, chắc hắn nghĩ đệ không nhìn thấu tâm tư của hắn nên tạm thời sẽ không ra tay với đệ nữa. Đệ nên cẩn thận nhiều hơn, trước mắt sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu.

Địch Thanh thấy Quách Tuân sắp đi. Chàng bỗng nghĩ tới một chuyện, vội hỏi:

– Quách đại ca, lời sấm đó trừ Thái Hậu và huynh ra, còn có ai khác biết không?

Quách Tuân trầm ngâm một lát rồi lắc đầu nói:

– Chắc không có đâu.

Ánh mắt Địch Thanh lóe lên, nói rõ ràng từng chữ:

– Nếu lời sấm kia trừ huynh và Thái Hậu ra không còn có ai biết. Vậy Đa Văn Thiên Vương làm sao biết được? Dĩ nhiên, bí mật này huynh và Thái Hậu sẽ không nói cho Đa Văn Thiên Vương biết, chẳng lẽ… là Thiệu Ung nói cho hắn biết sao?

Chàng phát hiện ra điểm nghi vấn liền hưng phấn nói:

– Có lẽ chúng ta có thể tra ra được tung tích của Đa Văn Thiên Vương từ trên người Thiệu Ung.

Quách Tuân thở ra một hơi nói:

– Thiệu Ung là kỳ nhân ẩn sĩ, không có nơi ở cố định, muốn tìm ra y, dễ lắm sao? Nhưng huynh nghĩ quá nửa là không phải do hắn nói, chắc có lẽ là…

Ánh mắt gã sáng lên, dường như nhớ ra chuyện gì đó. Song gã lại không nói tiếp, thoắt cái đã hòa mình vào trong bóng đêm mịt mù.

Địch Thanh trầm tư suy nghĩ mãi nhưng vẫn không tìm ra điểm mấu chốt, chàng thầm nghĩ: “Theo như lời Quách đại ca nói, Thiệu Ung sẽ không nói ra bí mật này. Quách đại ca nhất định cũng sẽ không nói, biết rõ bí mật này chỉ còn có Thái Hậu, nhưng dĩ nhiên Thái Hậu cũng sẽ không nói!”

Vừa nghĩ đến đây, Địch Thanh chợt thấy rất đau đầu. Hắn lặng lẽ đặt xuống bàn chút bạc vụn rồi rời khỏi quán rượu. Lưu lão tía cũng không có đi ra, dường như đã ngủ rồi.

Chương 15 : Vũ Thường

Đêm đã khuya, ánh trăng mờ nhạt.

Bước lững thững trên đường, Địch Thanh suy nghĩ về lời của Quách Tuân hôm nay, hằng hà bí ẩn, muôn vàn suy tư.

Lơ đãng ngẩng đầu lên, chàng mới phát hiện đã đến gần ngõ Mạch Kiết lúc nào không hay. Chàng cảm thấy ngỡ ngàng, rốt cuộc vẫn không quên được nàng, nhưng hôm nay vừa từ biệt nàng xong, còn nói ra lời tuyệt tình đến thế, sau này còn mặt mũi nào mà gặp nàng chứ?

Nghĩ vậy nhưng rốt cuộc Địch Thanh vẫn đi tới ngõ hẻm đó. Còn chưa đến gần cửa ngõ, chàng đã phát hiện có ai đó đang đứng trước cây mai kia, tim không khỏi loạn nhịp. Có tiếng ‘rốp rốp’ vang lên dồn dập từ phía gốc mai, chàng vốn tưởng là tiếng tim đập nhanh, nhưng khi nghe kĩ thì phát hiện ra đây là tiếng chặt cây mai của người đó.

Địch Thanh giật mình kinh hãi, vội vàng chạy tới thì thấy người đang chặt mai không phải là người trong mộng, mà là nha hoàn Nguyệt nhi của nàng. Mặc dù Nguyệt nhi nhìn có vẻ gầy yếu nhưng sức lực cũng không nhỏ, theo tiếng ‘rốp rốp’ vang lên không dứt, tuyết đọng bị chấn rơi xuống ào ào, vụn gỗ bay tứ tung.

Địch Thanh vội hỏi:

– Này, cô đang làm gì thế?

Nguyệt nhi đang chặt cây hết sức tập trung, do đó không để ý sau lưng có người đến gần. Nàng giật mình hét lên một tiếng sợ hãi rồi bỗng xoay người bổ một búa về phía Địch Thanh! Địch Thanh bắt lấy cổ tay nàng, quát:

– Cô có bị khùng không đó, sao vừa gặp tôi đã chém?

Nguyệt nhi nhận ra là Địch Thanh thì vùng mạnh mấy cái. Địch Thanh sợ nàng sẽ đánh tiếp nên không dám buông tay. Nguyệt nhi vùng ra không được, bỗng hé miệng phun một ngụm nước bọt vào mặt Địch Thanh.

Địch Thanh cuống quýt lui về phía sau, giận dữ nói:

– Sao cô ngang ngược không nói lý lẽ gì cả? Tôi là Địch Thanh đây!

Nguyệt nhi cười lạnh:

– Ta biết rõ ngươi là Địch Thanh đó, sao ngươi còn chưa đi chết đi?

Địch Thanh thấy nàng tức giận đến nỗi nghiến răng nghiến lợi, không khỏi rất đỗi kỳ quái:

– Tôi..tôi có mạo phạm gì cô đâu? Chuyện lúc trước, không phải tôi đã nhận lỗi rồi sao?

Trong suy nghĩ của chàng, việc đụng ngã cô gái trước đây, chàng đã dùng hoa tươi để xin lỗi. Trừ chuyện đó ra, chàng nghĩ không ra mình đã chọc giận cô nàng Nguyệt nhi này khi nào.

Nguyệt nhi mắng:

– Tên lừa gạt nhà ngươi, tiểu thư bị ngươi hại chết rồi, vậy mà ngươi còn buông lời châm chọc?

Địch Thanh rùng mình, hỏi gấp:

– Tiểu thư nhà cô làm sao?

Nguyệt nhi la lên:

– Không phải ngươi nói muốn rời kinh thành, không bao giờ trở về nữa hay sao? Tiểu thư nghe vậy rất thương tâm, khóc cả ngày, giờ đã ngã bệnh, tên chết tiệt nhà ngươi hài lòng rồi chứ? Ngươi đụng ngã tiểu thư thì thôi đi, hà cớ gì lại tặng Phượng Cầu Hoàng cho nàng?

Địch Thanh ngạc nhiên hỏi:

– Phượng Cầu Hoàng gì?

Nguyệt nhi lập tức vung búa bổ tới:

– Đến giờ mà ngươi vẫn không thừa nhận sao?

Lòng rối như tơ vò, chàng vội vàng tránh sang một bên, hô to:

– Cô, cô đừng có hở một cái là đánh đánh đấm đấm, tôi thấy cô là nữ giới nên mới không đánh trả, cô đừng tưởng rằng tôi sợ cô nha. Cô muốn tôi thừa nhận thì cũng phải nói cho tôi rõ chứ, uy hiếp người khác thừa nhận là không đúng tí nào.

Nguyệt nhi quát lên:

– Trước đây ngươi tặng chậu hoa kia cho tiểu thư nhà ta, không phải là Phượng Cầu Hoàng sao? Ngươi đừng có nói rằng, ngươi không có tặng nha.

Địch Thanh giật mình, không ngờ chậu hoa đó lại có cái tên lịch sự tao nhã đến như vậy. Trước đây, chàng chỉ muốn thể hiện lời xin lỗi của mình, đâu có biết tên của loài hoa này. Tuy chàng ít đọc sách nhưng vẫn biết chút ít ý nghĩa của Phượng Cầu Hoàng. Nếu khi đó chàng mà biết tên nó như vậy thì cho dù có bị đánh chết, chàng cũng không dám tặng. Bây giờ biết rồi, trong lòng vừa chua xót vừa có chút ngọt ngào. Giờ chàng mới hiểu được tại sao lúc nàng cám ơn chàng tặng hoa thì có chút ngượng ngùng.

– Ngươi tặng hoa cho tiểu thư nhà ta cũng không vấn đề gì, nhưng ngươi không nên bắt cá hai tay, tặng hoa cho nàng này rồi còn đến nơi bướm hoa vui vẻ với nàng khác. Hơn nữa, còn vì một nữ nhân mà đánh nhau với người ta.

Địch Thanh không thể không giải thích:

– Thật ra, tôi không phải vì nữ nhân.

Nguyệt nhi bĩu môi:

– Không phải vì đàn bà, chẳng lẽ vì nam nhân sao?

Địch Thanh khó lòng giải thích rõ ràng:

– Nguyệt nhi cô nương, mong cô hãy tin tôi, tôi đến đó không phải vì ca cơ đâu.

– Ta tin ngươi làm gì? Nhưng tiểu thư nhà ta mù quáng, không ngờ lại tin ngươi vô tội. Tiểu thư nói ngươi nhất định có nỗi khổ trong lòng, cảm thấy ngươi không phải là người xấu. Ngươi ở trong lao ngục hơn nửa năm thì nàng cũng lo lắng cho ngươi hơn nửa năm. Quê của chúng ta có một tập tục là khi thả diều có vẽ Hồng Chủy Ngọc thì có thể cầu phúc cho người khác, nghĩ gì được nấy. Ngươi ở trong lao ngục hơn nửa năm, tiểu thư nhà ta thả diều hơn nửa năm để cầu may cho ngươi.

Địch Thanh ngẩn người, giọng nói run rẩy trong gió:

– Cô nói thật chứ?

Chàng chợt nhớ lại lúc gặp nàng, nàng có nói cái gì mà: “Thì ra…”, rõ ràng là định nói —— “Thì ra tập tục là thật”.

Nguyệt nhi cười lạnh:

– Ngươi đừng giả vờ giả vịt nữa. Dù lời ta nói là thật đi chăng nữa, nhưng đó là do tiểu thư nhà ta có lòng tốt, không phải có tình ý gì với ngươi hết.

– Cô nương nói rất đúng. Nhưng tôi… cũng lấy diều giúp tiểu thư nhà cô…mà.

– Lấy diều là giỏi lắm sao?

Nguyệt nhi hỏi vặn lại.

Địch Thanh chột dạ trả lời:

– Cũng không phải giỏi gì, tôi cũng không biết, thật sự không biết…

– Ngươi biết đi tìm chết thôi đúng không?

Nguyệt nhi châm chọc:

– Nếu cái gì ngươi cũng không biết, tại sao lại đợi suốt mấy ngày ở ngõ Mạch Kiết, bộ dạng thì như thất hồn lạc phách?

Địch Thanh cả kinh, ngượng ngùng hỏi:

– Làm sao cô biết?

Nguyệt nhi cười khẩy:

– Có cái gì mà ta chẳng biết? Ngươi dám thề rằng mấy ngày nay ngươi quanh quẩn ở ngõ Mạch Kiết không phải đợi tiểu thư nhà ta không?

Đôi mắt Nguyệt nhi như băng, lạnh lùng nhìn Địch Thanh.

Địch Thanh không trốn tránh nữa, ưỡn ngực đáp:

– Đúng vậy, tôi đợi tiểu thư nhà cô đó. Tôi không biết lượng sức mình, nhưng tôi đi loanh quanh ngõ Mạch Kiết thì có gì là sai chứ?

– Ngươi không sai sao?

Nguyệt nhi bất mãn nói:

– Ngươi không thấy tiểu thư nhà ta đến, chẳng lẽ không thể tự mình đi tìm nàng sao? Nàng nhìn thấy máu liền chóng mặt, nhưng lại băng bó vết thương cho ngươi. Nàng sợ lạnh nhất, nhưng lại đứng chờ ngươi mấy lần. Nàng làm cho ngươi nhiều như vậy, vậy mà ngươi ngay cả một tí xíu cũng không cảm nhận được? Nàng chủ động tới tìm ngươi, chủ động nhắn tin cho ngươi, ngươi giỏi lắm, được thế bắt đầu chảnh, mấy đêm liền không thèm tới, cũng không biết ngươi là bò ngốc hay là ngốc như bò đây?

Địch Thanh nghe vậy thì vô cùng kích động, hận không thể tát mình mấy cái. Chàng vội mở miệng giải thích:

– Tôi thực sự bận việc mà, cô xem, tôi bị thương đây này. Mấy đêm nay, đêm nào cũng phải đi tuần, suýt tí nữa thì toi mạng rồi.

– Chết thì hay lắm sao?

Nguyệt nhi đốp chát lại.

Địch Thanh lúng túng nói:

– Ơ! Cái này cũng không có gì hay, nhưng lúc đó thật sự tôi tới không được.

– Vậy lần cuối cùng ngươi đến đây, tại sao lại tuyệt tình như vậy?

Nguyệt nhi cười nhạt hỏi:

– Ngươi cho rằng ngươi có lí do chính đáng ư? Ngươi cho rằng tiểu thư nhà ta phải chịu đựng bị ngươi khi dễ sao? Hay ngươi chỉ là tên bịp bợm? Nếu ngươi đã đi rồi thì cớ sao đêm nay còn đến đây?

– Nguyệt nhi cô nương, tôi thật sự có nỗi khổ trong lòng. Tôi biết đây đều là lỗi của tôi, cô đánh tôi cũng được, mắng tôi cũng được luôn, nhưng tôi chỉ xin cô dẫn tôi đến gặp tiểu thư nhà cô, tôi sẽ giải thích rõ mọi chuyện với nàng. Nàng tha thứ cho tôi cũng được, hận tôi cũng không sao, tôi đều cảm kích cô vô cùng.

Vốn tưởng rằng cô nàng Nguyệt nhi cay nghiệt này sẽ không dẫn chàng đi, ai dè Nguyệt nhi nhìn chàng một lúc, rốt cuộc thở dài:

– Được rồi, ta dẫn ngươi đi. Mong rằng lần này ngươi đừng có khiến cho người ta thất vọng.

Được Nguyệt nhi đồng ý, chàng vui mừng vô hạn, nhưng khi thấy Nguyệt nhi xách búa đi trước dẫn đường thì chàng thầm run sợ. Hai người băng qua ngõ Mạch Kiết, đến trước cửa son mà lần trước cô gái ấy đi vào, nhưng lại không đi vào mà tiếp tục đi qua. Tiếp đó Nguyệt nhi dẫn Địch Thanh vào bằng cửa hông, đi qua hành lang xuyên sân vườn, cuối cùng đến trước một căn phòng thì dừng lại. Nàng nói nhỏ:

– Có lẽ tiểu thư nhà ta đang ở đây, ngươi vào gặp đi. Có lẽ nàng còn đang ngủ đó, ngươi nhẹ nhàng một chút.

– Cô không vào sao?

Địch Thanh đổ mồ hôi hột hỏi.

Nguyệt nhi trả lời:

– Ta mệt rồi, chẳng lẽ ngươi không thể để cho người ta nghỉ một tí sao?

Địch Thanh hơi chần chừ hỏi:

– Đây là khuê phòng của tiểu thư nhà cô sao? Làm sao tôi có thể vào chứ?

– Nếu ngươi thật lòng muốn gặp nàng, cho dù núi đao biển lửa cũng phải xông vào, nói chi là khuê phòng!

Địch Thanh thầm nghĩ: “Cái này sao mà giống được chứ? Vì nàng, dù núi đao biển lửa mình cũng không sợ, nhưng khuê phòng thì khác”.

Thấy chàng còn định nói thêm gì đó, Nguyệt nhi sầm mặt nạt:

– Bà ta ơi! Mẹ ta ơi! Thật không phải là đàn ông mà. Ngươi không vào đúng không? Vậy thì theo ta đi ra ngoài!

Địch Thanh vội nói:

– Tôi vào, tôi vào.

Vừa định gọi “trước” một tiếng, Nguyệt nhi ngăn lại:

– Tiểu thư có lẽ đang nghỉ ngơi, ngươi đừng đánh thức nàng.

Dứt lời liền xoay người rời đi.

Địch Thanh rất khó xử, không đoán được tâm tư của cô nàng Nguyệt nhi này.

Nhìn thấy trong sương phòng hắt ra ánh đèn nhàn nhạt, chàng bỗng cảm thấy nghi hoặc trong lòng. Mấy ngày nay chàng luôn chìm trong mưu mô tính kế, nên giờ đột nhiên có suy nghĩ này: “Chẳng lẽ đây là một cái bẫy, nếu không thì sao Nguyệt nhi lại để một người xa lạ như mình đến gặp tiểu thư nhà nàng?”

Nhưng ngay sau đó chàng cười chua xót, thầm nhủ: “Địch Thanh à Địch Thanh, ngươi coi ngươi là cái gì chứ, đáng để bọn họ bày bố ra cái bẫy này hay sao? Cho dù là bẫy thật, nhảy vào cũng có sao?”

Địch Thanh đắn đo suy nghĩ, rốt cuộc cố lấy can đảm đẩy cửa phòng ra. Trong phòng vắng vẻ trống trải, chỉ có một ngọn đèn mờ ảo.

Phòng này rộng lớn như vậy, thực sự là khuê phòng ư?

Đứng ở trong phòng một lát, Địch Thanh mới phát hiện nơi này còn có cửa hông, chậm rãi đi tới đẩy cửa phòng ra, chàng nhìn thấy thấy nơi này hương khói lượn lờ, nàng đang đứng yên trước bàn thờ, mặt đối điện với linh vị, lưng đưa về phía Địch Thanh.

Địch Thanh cảm thấy có chút không tiện, vừa định rời đi thì cô gái nghe thấy sau lưng có tiếng động liền buồn bã hỏi:

– Tiểu Nguyệt, em về rồi sao?

Địch Thanh khó xử, trong lúc nhất thời không biết nói gì cho phải.

Thiếu nữ kia chỉ cho là Tiểu Nguyệt đến nên cũng không quay đầu lại. Nàng nói tiếp:

– Than ôi, cổ tay y bị thương, miệng vết thương còn chưa được băng bó, cũng không biết đã đỡ hơn chưa. Chị sẽ không còn gặp được y nữa rồi.

Sống mũi cay cay nhưng chàng vẫn đứng lặng yên nhìn nàng, trong lòng dâng trào cảm xúc.

Im lặng một lúc, nàng lại nói tiếp:

– Tiểu Nguyệt, em nói xem, có phải chị rất ngốc đúng không? Chị chỉ gặp y một lần, chỉ nhận một chậu hoa mà y tặng, nhưng chẳng biết tại sao, lần đầu tiên gặp nhau, chị đã cảm thấy trong lòng y chất chứa đầy tâm sự và ưu sầu, giống hệt như chị vậy. Lúc trước chị vốn không tin chuyện vừa gặp đã thương, nhưng sau này chị đã tin, em còn cười chị ngây ngơ. Trước đây, em nói y tranh đoạt tình nhân với Mã Trung Lập, không phải là đàn ông tốt, chị còn trách mắng em, nói y không phải là hạng người này, chị và em còn đánh cuộc với nhau, chị nói y không phải hạng người này! Em thua, có phải không?

Nàng nở một nụ cười như có như không, nói tiếp:

– Hóa ra thả diều Hồng Chủy Ngọc, tâm nguyện của một người có thể thành sự thực. Hóa ra người tốt cuối cùng cũng sẽ được báo đáp. Y bình an rồi, chị mừng ghê lắm, nhưng y yêu chị thật sao? Suốt mấy ngày nay, y quanh quẩn trong gió tuyết nơi ngõ Mạch Kiết, có phải là đang chờ chị hay không? Tiểu Nguyệt, em biết không, đến tận bây giờ, ngoài mẫu thân và em ra, chưa từng có ai quan tâm chị đến thế, chị rất vui em ạ. Chị nghe y kể lại chuyện xưa thì mới biết được thì ra y cũng giống như chị, đều mất mẫu thân từ lúc còn rất bé, y vì đại ca nên mới tòng quân, vì bình định phản loạn nên mới bị thương. Lúc nào y cũng bị thương, thật là làm cho người ta lo lắng. Lần trước chị đã băng vết thương cho y, nhưng lần này tại sao y lại quyết rời đi chứ? Chị biết y gặp chuyện khó xử và không muốn làm cho chị buồn, nhưng y không biết sao? Y không nói ra thì càng làm chị buồn hơn!

Đột nhiên nàng rủ người ôm lấy mặt bàn, nấc lên từng tiếng nghẹn ngào. Chàng ứa nước mắt, miệng không thể thốt nên lời.

– Mẫu thân, Y…đi…đi thật rồi, không bao giờ…trở về…nữa. Con biết, biểu hiện của y lúc đó đã nói cho con biết hết thảy. Mẫu thân, lúc đó con rất muốn nói rằng, con muốn phiêu bạt khắp chân trời góc bể với y, nhưng con làm sao có thể? Con đành phải trơ mắt nhìn y rời đi. Trong khoảnh khắc đó, mẹ có biết trái tim con tan nát rồi không… Mẫu thân, con không biết phải cầu ai bây giờ, chỉ cầu mong mẹ ở trên trời có linh thiêng phù hộ cho huynh ấy…bình an…

Trong lúc nghẹn ngào khôn xiết, cảm thấy có bàn tay vuốt nhẹ lên mái tóc, nàng liền xoay người ôm lấy, thút thít:

– Tiểu Nguyệt…

Rồi đột nhiên cảm giác không phải, nàng lập tức buông tay lùi bước, nhìn thấy là Địch Thanh, thân hình yêu kiều của nàng loạng choạng mấy cái, như thể sắp té xỉu đến nơi.

Lần này thì ĐịchThanh đã có thể mấp máy bờ môi, chàng run rẩy nói:

– Huynh…

Nghe cô gái bày tỏ tấm lòng, chàng đã sớm xúc động khó tả, tuy có rất nhiều lời muốn nói, nhưng không thốt nổi một từ nào. Cô gái kêu nhỏ một tiếng, lại nhào vào lòng Địch Thanh. Hai người ôm chặt lấy nhau, không nói thêm lời nào. Có lẽ ở trong lòng hai người bây giờ không lời còn giá trị hơn ngàn lời, im lặng còn giá trị hơn cả nói!

Bóng tối vắng lặng hiền hòa, trong không khí phảng phất mùi hương thơm dìu dịu. Địch Thanh ôm lấy thân thể ấm áp và mềm mại trong lòng, nhất thời không biết thân đang ở nơi đâu, nhất thời quên tất cả vinh nhục xót xa.

Không biết qua bao lâu, cô gái nhẹ nhàng đẩy Địch Thanh ra, thụt lùi hai bước, mặt lộ vẻ thẹn thùng hỏi:

– Huynh không phải đã đi rồi ư? Sao còn trở về đây? Tiểu Nguyệt, em đang ở đâu?

Cô gái thầm nghĩ, Địch Thanh tuyệt đối không có can đảm đến đây một mình, nhất định là do nha đầu Tiểu Nguyệt ấy dẫn đến.

Ngoài cửa không có ai trả lời, nàng đỏ mặt, vân vê góc áo nói:

– Địch Thanh…huynh…

Địch Thanh áy náy:

– Huynh…thật không biết nói gì nữa, huynh không biết muội đối với huynh như thế, nếu sớm biết…

Thấy đôi mắt như trăng thanh nước biếc của cô gái đang nhìn mình, Địch Thanh nhấc tay muốn vả vào mặt.

Cô gái dịu dàng nắm chặt lấy bàn tay Địch Thanh, nhỏ giọng:

– Muội biết huynh nhất định có điều khó nói.

Địch Thanh đột nhiên phát hiện rằng, mọi chuyện đã không cần phải giải thích gì nữa, nàng chẳng những có dung mạo thoát tục mà còn khéo hiểu lòng người.

Chàng cảm khái:

– Nhưng dù cho huynh có chuyện gì khó nói đi chăng nữa, cũng không nên đối xử với muội như vậy.

Nước mắt nàng lăn dài từ vành mắt xuống khóe miệng tạo thành một đường cong mỹ lệ, nàng thủ thỉ:

– Huynh nghĩ rằng, dù có nói cho muội đi nữa thì cũng vô dụng thôi. Trái lại chỉ tổ làm cho muội thêm khó xử, đúng không?

Trước đây, Địch Thanh quả thực nghĩ như thế. Chàng thở dài:

– Lúc đó huynh chỉ muốn trả thù, tưởng rằng không thể lui được nữa nên mới nghĩ đến sau khi ra tay sẽ rời khỏi kinh thành, từ nay về sau lưu lạc nơi chân trời góc bể. Dĩ nhiên…cũng có thể bỏ mạng nơi đầu đường, kết cục là cái chết.

Thân thể mềm mại của nàng khẽ run, đôi mắt xinh đẹp nhìn Địch Thanh hỏi:

– Vậy bây giờ thì sao?

Địch Thanh cười khổ:

– Bây giờ suy nghĩ lại, một số việc dường như vẫn có thể nhẫn nhịn được.

– Đúng vậy, trên đời này có một số việc, ban đầu nhìn thì khó mà nhẫn nhịn, nhưng sau này ngẫm lại, cũng không đáng một nụ cười. Địch Thanh, huynh hãy hứa với muội, sau này làm việc gì cũng phải nghĩ kỹ nhé?

Địch Thanh không chút do dự nói:

– Huynh hứa với muội!

Nàng nở nụ cười tươi tắn, rồi thân hình bỗng loạng choạng, đưa tay xoa trán.

Địch Thanh vội vàng đỡ lấy nàng:

– Muội sao thế?

– Muội…không sao cả.

Địch Thanh lúc này mới chợt nhớ Nguyệt nhi có nói nàng đang sốt, liền ân cần dặn dò:

– Nếu muội cảm thấy không khỏe thì trở về nghỉ ngơi đi.

Nàng vốn định gật đầu nhưng rồi mặt lại ửng đỏ, lắc đầu:

– Không, muội vẫn còn muốn ngồi đây một chút nữa, huynh ngồi cùng muội được không?

Địch Thanh không nỡ từ chối liền gật đầu đồng ý. Chàng quay đầu nhìn linh vị, trông thấy bên trên có khắc “Hiển(*) tỷ Dương môn Bạch thị linh vị”, thầm nghĩ: “thì ra nàng họ Dương”.

(*)Hiển: cách xưng hô tổ tiên một cách kính trọng.

Nàng thấy Địch Thanh nhìn linh vị, thầm thì:

– Đó là linh vị của vong mẫu(**).

(**)Vong mẫu: mẹ đã mất)

Địch Thanh nghe vậy, kính cẩn thi lễ thật sâu với linh vị kia, trong lòng mặc niệm: “Bá mẫu, tại hạ Địch Thanh, may mắn gặp gỡ lệnh thiên kim, chỉ cầu người phù hộ nàng bình an hạnh phúc, Địch Thanh được nàng xem trọng, nhất định không phụ thâm tình của nàng.”

Nhiều năm qua, tinh thần Địch Thanh sa sút, buồn bực không vui, đột nhiên biết được tình cảnh của nàng cũng giống như chàng, lại còn thâm tình với chàng đến thế thì sớm đã không kềm lòng được. Nhiều ngày quanh quẩn ở ngõ Mạch Kiết, Địch Thanh không ngờ rằng tình ý đã sớm đâm chồi trong lòng.

Sau khi bái linh vị xong, Địch Thanh mới nhớ ra mình vẫn chưa hỏi tên nàng. Lúc trước thì ngượng ngùng, sau này thì mặc cảm, đợi đến khi quen nhau hơn thì lại sắp ly biệt, cần gì phải hỏi nữa? Cho nên đến bây giờ, Địch Thanh vẫn chưa biết tên nàng, trong sự ngọt ngào cũng mang theo ít nhiều áy náy.

Cô gái thấy Địch Thanh rất kính trọng với vong mẫu của mình thì trong lòng vui sướng, nhưng nhìn thấy chàng trầm tư nên hỏi:

– Huynh nghĩ gì thế?

Địch Thanh lắc đầu trả lời:

– Cũng không có gì, huynh đang nghĩ tới việc đến tận bây giờ mà vẫn chưa biết tên muội, cảm thấy có phần thất lễ quá.

Cô gái nhoẻn miệng cười:

– Thất lễ quá sao? Cũng không hẳn vậy đâu! Nhưng nếu mẹ muội còn sống, có lẽ sẽ nói rằng: “Vũ Thường à, sao con có thể quen biết tên nam nhân hồ đồ này chứ?”

Địch Thanh nghe cô gái hờn dỗi thì thẹn đỏ cả mặt, ngập ngừng:

– Hóa ra muội tên là Dương…

Chàng đang cân nhắc xem rốt cuộc tên nàng là Vũ Thường(Vũ: mưa) hay là Vũ Thường(Vũ: lông) hay là chữ gì khác. Nàng đột nhiên đứng dậy, nhẹ nhàng múa một điệu rồi nói:

– Chẳng lẽ huynh không biết 《 Nghê Thường Vũ Y Khúc 》(1) sao?

Nhìn điệu múa uyển chuyển của nàng, chàng cảm giác như đang chìm trong cõi bồng lai tiên cảnh, xấu hổ nói:

– Chưa từng nghe qua.

Cô gái dịu dàng cười nói:

– Khúc《 Nghê Thường Vũ Y》này vốn là tác phẩm mà Đường Huyền Tông tâm đắc nhất, lúc ấy có người làm thơ khen rằng, ‘Thiên khuyết trầm trầm dạ vị ương, bích vân tiên khúc vũ nghê thường, nhất thanh ngọc địch hướng không tẫn, nguyệt mãn ly sơn cung lậu trường(*).’ Mẫu thân của muội rất thích nhạc điệu cũng như lời bài thơ này, ban đầu định đặt tên muội là Nghê Thường, nhưng lại cảm thấy lộng lẫy qua mức nên về sau quyết định đổi thành Vũ Thường. Người nói: ‘Con gái à, chất phác là Chân(bản tính tự nhiên), mẫu thân không chọn Nghê Thường mà lấy Vũ Thường để đặt cho con, Vũ trong vũ mao(lông vũ), Thường trong y thường(xiêm y), hy vọng con sau này không cầu xa hoa, chỉ cầu hạnh phúc vui vẻ. Con phải biết rằng, nhiều lúc hạnh phúc, bao nhiêu xa hoa cũng không mua được.

(*)Thăm thẳm cung trời đêm chẳng buông, mây xanh tiên dạo khúc Nghê thường, một làn sáo ngọc dâng cao vút, trăng trải non ngàn điệu vấn vương.

– Thì ra muội tên là Dương Vũ Thường, mẹ muội nói thật hay…

Trong đầu thì nghĩ: “Mình có thể được Vũ Thường xem trọng, đây đúng là bao nhiêu xa hoa cũng không mua được.”

– Đúng vậy, do đó khi đau buồn muội sẽ tìm mẫu thân khóc lóc kể lể, khi vui vẻ muội cũng sẽ đến đây thổ lộ ra hết. Muội biết bất kể muội có vui vẻ hay không, người lúc nào cũng kiên nhẫn nghe muội nói.

Vũ Thường nhẹ giọng nói.

Địch Thanh cố lấy can đảm:

– Vậy sau này bất kể là u buồn hay vui vẻ, muội cũng có thể nói với huynh.

Sóng mắt long lanh, Vũ Thường vui vẻ nói:

– Ừm.

Nàng khẽ ngáp một cái, rồi lấy tay che miệng ngay tắp lự. Địch Thanh thấy thế thì cười bảo:

– Muộn rồi đó, muội về nghỉ ngơi đi, hôm khác huynh lại tới thăm muội.

Vũ Thường lắc đầu:

– Muội chưa buồn ngủ.

Rồi nàng bỗng nảy ra một ý, cười nói:

– Muội kể cho huynh nghe nguồn gốc tên muội rồi, huynh cũng nên kể chuyện của huynh mới được.

Địch Thanh lúng túng đáp:

– Huynh nào có chuyện gì để kể chứ?

Vũ Thường không chịu buông tha:

– Huynh không kể, muội không cho huynh đi.

Địch Thanh cũng không nỡ đi, nhưng nhìn thấy sắc mặt mệt mỏi của Vũ Thường thì thật không nỡ để nàng thức đêm nữa, đành trầm ngâm:

– Thật ra thì cũng không có chuyện gì để kể. Khi còn bé huynh ở Tây Hà, vì cha mẹ mất sớm nên huynh rất thích đánh nhau. Huynh ghét nhất là bị người khác xem thường, nhưng sau này huynh rốt cuộc hiểu ra, có lẽ số mệnh đã định trước huynh là kẻ bị người ta xem thường.

Vũ Thường an ủi:

– Vương hầu tương tương, ninh hữu chủng hồ(2). Địch Thanh, nếu huynh muốn được người khác xem trọng thì phải có chí khí mới được.

(2) vương hầu danh tướng không phải tự nhiên mà có, phải qua nỗ lực phấn đấu thì mới thành công.

Địch Thanh thấy Dương Vũ Thường khéo hiểu lòng người thì cảm kích nói:

– Muội nói không sai, sau này huynh tuyệt đối sẽ không để cho người khác xem thường nữa.

Rồi nghĩ thầm, ‘vì muội, huynh phải phấn chấn hơn mới được.’

Vũ Thường hỏi:

– Huynh nói vì đại ca nên huynh mới đánh nhau với tên cường hào ác bá đó, hình như trong đó có một vị cô nương tên là Tiểu Thanh, trong tên nàng có chữ Thanh, huynh cũng có chữ Thanh, phải chăng hai người có duyên phận?

Địch Thanh vội nói:

– Thanh sơn cũng có chữ Thanh, chẳng lẽ huynh cũng có duyên phận với toàn bộ thanh sơn(non xanh) sao?

Nhìn thấy trong hai tròng mắt của Vũ Thường có nụ cười ranh mãnh, Địch Thanh cười nói:

– Hay lắm, muội dám giễu cợt huynh.

Vũ Thường làm bộ nghiêm mặt lại nói:

– Muội nào dám chứ? Địch Thanh, huynh không biết là… huynh rất anh tuấn không?

Địch Thanh sờ sờ mặt, cười khổ đáp:

– Bị xăm chữ trên mặt thì sao mà anh tuấn cho được?

– Nếu không thì, muội nghĩ do huynh quá anh tuấn, ngược lại cũng không tốt lắm. Mẫu thân muội nói, trên đời này, vật quá hoàn mỹ, sẽ chết yểu…

Địch Thanh thầm run, nói vội:

– Cũng không hẳn vậy.

Nhìn khuôn mặt xinh đẹp không chút tỳ vết của Vũ Thường, tim chàng bỗng đập nhanh.

Vũ Thường thấp giọng nói:

– Mấy chữ xăm trên mặt đã giúp huynh xóa đi vẻ đẹp nhu nhược trước kia mà chuyển thành vẻ kiên cường bây giờ. Vết sẹo trên đầu huynh vì sao mà có vậy?

– Chuyện dài lắm.

– Thế huynh kể cho muội nghe đi.

Nhìn thấy dáng vẻ đầy quyến luyến, Địch Thanh không nỡ từ chối:

– Đây có thể nói là một trận chém giết khó quên nhất trong cuộc đời huynh…

Thảm trạng tại thung lũng Phi Long năm đó lại một lần nữa hiện ra trong đầu, Địch Thanh không nhịn được kể lại chuyện năm đó. Mặc dù chuyện đã xảy ra cách đây nhiều năm, nhưng khi Vũ Thường nghe xong vẫn cảm thấy kinh tâm động phách, đôi mắt đẹp đôi khi hiện ra vẻ kinh hãi, dẫu sao nàng vẫn là thiếu nữ khuê phòng, thường ngày không có biết đến chuyện đẫm máu như thế này, ngay cả nghe cũng chưa từng nghe qua. Khi nghe đến chuyện Địch Thanh ra tay cứu Quách Tuân thì nàng lộ vẻ tôn kính:

– Địch Thanh, muội không có nhìn lầm huynh ^^, lúc đó còn có thể ra tay cứu giúp, đây chính là hành động của trượng phu!

Địch Thanh được người yêu khen ngợi thì ngượng ngùng cười:

– Muội quá khen rồi! Suốt mấy năm sau huynh luôn tự hỏi, năm đó ra tay có đáng hay không? Hay lúc đó chỉ là bốc đồng nhất thời.

– Trong giây phút sống chết, mới hiển lộ ra bản sắc anh hùng. Muội thấy chỉ trong khoảnh khắc đó, mới có thể hiển lộ bản sắc con người chân chính. Vậy tiếp đó thì sao?

Địch Thanh nói tiếp:

– Khởi đầu là Quách đại ca cứu huynh, tiếp đó huynh giúp huynh ấy một tay, sau đó nữa thì huynh ấy lại cứu huynh. Trong trận đánh nhau ở thung lũng Phi Long, do huynh ấy vận công quá sức, nghe nói bệnh căn không dứt, đã mấy năm rồi vẫn chưa khỏe lại, song huynh ấy chưa từng nói chuyện này cho huynh biết , huynh hỏi Vương đại phu mới biết được đó. Than ôi, cả đời này, huynh lúc nào cũng nợ huynh ấy.

Những lời này chàng chưa bao giờ đề cập với người ngoài, bởi vì chàng biết Quách Tuân xưa nay ban ơn không mong báo đáp, nhưng rốt cuộc vẫn thổ lộ với Vũ Thường.

Vũ Thường tỏ ra kính ngưỡng, hồi lâu mới nói:

– Các huynh đều là anh hùng! Địch Thanh, huynh không nên nản lòng, chỉ cần cố gắng thì cuối cùng sẽ có một ngày thực hiện được ước nguyện.

Địch Thanh cười hỏi:

– Chẳng lẽ muội biết được ước nguyện của huynh sao?

Đôi mắt đẹp của Vũ Thường dừng lại trên khuôn mặt Địch Thanh, ôn nhu nói:

– Ước nguyện của huynh không phải là muốn trở thành anh hùng, được tất cả người trong thiên hạ tôn sùng sao?

Địch Thanh giật mình, nắm lấy bàn tay mềm mại của Dương Vũ Thường, nghẹn lời hỏi:

– Làm sao muội biết? Chuyện này huynh chỉ nói với đại ca mà thôi.

Vũ Thường hơi đỏ mặt nhưng không rút tay về, giảo hoạt nói:

– Muội biết mà.

Lòng bàn tay có cảm giác mềm mại, chàng cúi đầu thì nhìn thấy đôi bàn tay bé nhỏ của nàng, trắng như ngọc, trắng hơn cả tuyết. Chàng chậm rãi buông lỏng tay ra, nói:

– Vũ Thường, huynh sẽ không khiến cho muội thất vọng, cũng sẽ không khiến cho bản thân thất vọng. Muội hãy tin huynh.

Lời chàng nói như chém đinh chặt sắt, ý chí chưa bao giờ kiên định đến thế.

Vũ Thường nhìn vào hai mắt Địch Thanh:

– Nếu muội không tin huynh thì còn đợi huynh làm gì?

Nàng dịu dàng cười, rồi nói tiếp:

– Được rồi, hôm nay huynh kể chuyện nên được qua ải, sau này nhớ đến kể chuyện cho muội nghe nữa nhé.

Địch Thanh gật đầu nói:

– Ừ.

Vũ Thường tiễn chàng ra đến trước cửa phòng, Địch Thanh ngăn lại:

– Gió lớn lắm, muội đừng tiễn nữa, huynh tự về được rồi.

Vũ Thường không cố chấp nữa. Nàng gật đầu đồng ý, rồi nhẹ giọng ngâm:

– Thanh thanh tử khâm, du du ngã tâm. Túng ngã bất vãng, tử ninh bất tự âm?(*)

(*)Xanh xanh áo ai, xao xuyến lòng tôi. Dẫu mình không gặp, sao chẳng nhắn đôi lời?

Nàng nói xong bật cười, đóng cửa phòng lại, không còn thấy bóng dáng nữa.

Nghe thấy nàng ngâm bốn câu này, song trong lúc nhất thời chàng vẫn chưa hiểu nghĩa, ‘thanh thanh’ có lẽ là nói ‘Địch Thanh’ chàng, ý của phần sau hình như là Vũ Thường oán trách chàng, nàng không tới tìm chàng, chẳng lẽ chàng không thể đi tìm nàng sao? Ôi, có lẽ là thế. Mặc dù chàng nghĩ vậy nhưng cũng không chắc lắm, lát về phải thỉnh giáo thằng nhóc Quách Quỳ có kiến thức nửa vời kia mới được.

Địch Thanh bước theo đường cũ ra ngoài, khi đến cửa nhỏ thì tần ngần một lúc rồi mới đẩy cửa rời đi. Vừa ra khỏi cửa nhỏ thì chợt nghe sau lưng vang lên một tiếng “cạch”, chàng biết đây là tiếng đóng cửa của Nguyệt nhi. Chắc hẳn nàng chờ đã lâu, chàng rất cảm kích. Cô nương Nguyệt nhi này nói năng chua ngoa nhưng tâm địa thiện lương, người lạnh lùng như vậy mà lại thức đêm canh cửa cho bọn họ, sau này mình phải cảm ơn nàng mới được.

Về tới Quách phủ mà lòng Địch Thanh vẫn còn lâng lâng, nằm trên giường giống như đang ở trên mây, tuy vẫn còn nhiều điều băn khoăn nhưng nó đã bị niềm hạnh phúc lấn át đi, thậm chí cừu hận trước đây cũng phai nhạt đi rất nhiều.

Chờ mãi cũng đến lúc bình minh, Địch Thanh rời giường thật sớm đi đến trước phòng Quách Quỳ, thấy nó vẫn ngon giấc nồng thì không tiện làm phiền nên quay qua tìm Quách Tuân. Giường của Quách Tuân gọn gàng ngăn nắp, dường như cả đêm qua không về. Địch Thanh dần dần phát hiện ra rằng, Quách Tuân hình như cũng có rất nhiều bí mật, nhưng chàng cũng không nghĩ thêm nhiều.

Quay lại trước cửa sổ phòng Quách Quỳ, Địch Thanh thấy nó vẫn ngủ say như heo.

“Cả ngày lười biếng như vậy, sao mà coi cho được? Mình làm nhị ca thì phải có trách nhiệm dẫn dắt nó trở nên hăng hái hơn.” Chàng thầm nghĩ

Thế là Địch Thanh làm bộ làm tịch múa quyền vù vù trước cửa sổ phòng Quách Quỳ. Tiếng la hét ỏm tỏi có thể so sánh với bà bán bánh hấp ở đầu phố. Mới la được mấy tiếng thì một quyển sách bay thẳng vào ót, Địch Thanh trở tay bắt lấy, nhìn thấy là cuốn « Kinh Thi » thì mừng thầm.

Quách Quỳ la lớn:

– Mới sáng sớm mà huynh làm gì kêu gào như quỷ thế? Muốn mượn sách phải không? Mới mua hôm qua đó, cầm lấy mà xem đi.

Nó vốn tưởng rằng Địch Thanh sẽ phát cáu, ai dè Địch Thanh lấy sách nhét vào trong ngực rồi mỉm cười nói:

– Tiểu Quỳ, đệ hiểu người còn giỏi hơn so với Bá Nha Tử Kỳ(3) đó.

Chàng nói xong vội vàng rời đi, cũng quên luôn trách nhiệm nhắc nhở Quách Quỳ luyện võ.

Quách Quỳ rất ngạc nhiên, lẩm bẩm:

– Địch nhị ca này, không biết đang làm cái trò quỷ gì nữa, lẽ nào trong sách cũng có Hoàng Kim Ốc(4) thật sao? Nếu không thì sao bị chọi sách vào đầu mà còn cao hứng như thể nhặt được vàng?

Ngáp một cái thật dài, cơn buồn ngủ lại ập đến, không muốn nghĩ thêm nữa, nó nằm xuống ngủ tiếp.

Địch Thanh vừa ra khỏi Quách phủ thì lập tức lấy « Kinh Thi » ra xem, lật đến chỗ có bốn chữ “thanh thanh tử khâm” thì dừng lại, phát hiện ra bài thơ này có tên là « Tử Khâm »(5), trừ mấy câu mà Vũ Thường đã đọc ra, phần sau còn có bốn câu là “thanh thanh tử bội, du du ngã tư. Túng ngã bất vãng, tử ninh bất lai?(*)”

(*) Xanh xanh ngọc bội, xao xuyến hồn tôi. Dẫu mình không gặp, sao chẳng đến chơi?

Những lời này cho dù là người mù cũng hiểu, ý là ‘nếu muội không đến, huynh không thể tự mình đến sao?’ Địch Thanh thầm cao hứng vì khả năng học một biết mười của mình, nhưng vì trong sách thiếu đi phần chú thích của Quách Quỳ như những chỗ trước đây, nên chàng vẫn còn có đôi chỗ không hiểu lắm. Địch Thanh đọc tiếp, thấy phần sau cùng có bốn câu là “Thiêu hề đạt hề, tại thành khuyết hề. Nhất nhật bất kiến, như tam nguyệt hề.(*)” thì nhu tình dào dạt trong lòng.

(*) Chờ a đợi a, trước cổng thành a. Một ngày không gặp, như ba tháng à.

“Một ngày không gặp, như ba tháng à.” Làm sao mà Địch Thanh không rõ hàm nghĩa trong đó chứ? Vũ Thường nhớ mình đến thế sao? Vũ Thường nói những lời này, có phải muốn nhắc nhở mình đừng lỡ hẹn nữa, nhanh đến gặp nàng?

Địch Thanh đem quyển sách và nỗi tương tư nhét vào lồng ngực, chân giẫm tuyết đọng, bước thấp bước cao đi đến quân doanh.

Vừa vào doanh trướng, Lý Vũ Hanh liền chạy ra đón, vẻ mặt đầy vui mừng:

– Địch Thanh, Trương Ngọc đã tỉnh!

Địch Thanh vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, vội đến trước giường Trương Ngọc. Trương Ngọc đang nhìn chàng, mặc dù hai mắt vô thần, nhưng đã thoát khỏi cơn mê.

Ở bên cạnh, Lý Vũ Hanh nói:

– Đêm qua Vương thần y theo lời mời của Quách chỉ huy vội vàng tới đây chữa bệnh cho Trương Ngọc, sáng nay vừa mới rời đi.

Địch Thanh cảm thấy xấu hổ, Quách đại ca thì chu đáo cẩn thận, còn chàng thì lại lỗ mãng chỉ nghĩ đến báo thù, làm sao có thể quên mời Vương thần y được nhỉ? Chàng nắm chặt tay Trương Ngọc nói:

– Trương Ngọc, ngươi yên tâm nghỉ ngơi đi…

Trương Ngọc thấp giọng nói:

– Địch Thanh, ta có việc muốn nói riêng với ngươi.

Lý Vũ Hanh khẽ biến sắc, biết Trương Ngọc vẫn chưa chịu tha thứ cho gã. Gã thở dài rồi chậm rãi lui ra ngoài.

Địch Thanh ngồi ở đầu giường, khó hiểu hỏi:

– Ngươi muốn nói gì?

– Ta e rằng chuyện này là do Hạ Tùy giở trò.

Trương Ngọc lo lắng nói:

– Khi lần đầu hắn tìm ngươi, ánh mắt hắn nhìn ngươi có vẻ bất thường…

Địch Thanh ngắt lời:

– Trương Ngọc, ta biết rồi. Ngươi cứ yên tâm dưỡng thương đi, không nên nghĩ nhiều.

Trương Ngọc nhìn Địch Thanh thật lâu, không hiểu hỏi:

– Ngươi cũng biết rồi sao?

Địch Thanh nghiêm nghị đáp:

– Ta tuy biết, song trước mắt cũng không làm được gì.

Trương Ngọc thở phào nhẹ nhõm, lẩm bẩm nói:

– Vậy ta yên tâm.

Hắn nhắm mắt lại, không nói thêm lời nào.

Địch Thanh ngồi đây một lát, thấy Trương Ngọc đã ngủ say.

Chàng thầm nghĩ: “Thì ra Trương Ngọc đã sớm nhìn ra vẻ bất thường của Hạ Tùy, hắn lo lắng mình không nắm rõ tình hình, do đó mới nhắc nhở mình đừng đi tìm Hạ Tùy báo thù. Trước đây, hắn suốt ngày nói cười toe toét, không ngờ lại trọng nghĩa như vậy.”

Hoạn nạn mới thấy chân tình, Địch Thanh cảm khái bước ra doanh trướng, Lý Vũ Hanh bước tới hỏi:

– Địch Thanh à, Trương Ngọc còn giận ta sao?

Địch Thanh vỗ vỗ vai Lý Vũ Hanh nói:

– Hắn trọng thương chưa lành, ngươi phải chăm sóc hắn nhiều hơn.

Lý Vũ Hanh gật đầu, vẻ mặt ảm đạm. Có đôi khi, chỉ một lựa chọn thôi cũng có thể tạo nên áy náy cả đời.

Địch Thanh đầy tâm sự, lững thững mà đi, trong lúc không tự chủ lại đi đến ngõ Mạch Kiết. Lúc đi ngang qua chùa Đại Tướng Quốc, chàng nhìn thấy cảnh buôn bán tấp nập, trời tuy lạnh nhưng dân chúng vẫn hào hứng giao dịch, nơi nơi rộn ràng nhộn nhịp. Bất kể triều đình, biên cương ra sao, quang cảnh buôn bán nơi đây lúc nào cũng yên bình.

“Tối qua, Vũ Thường vẫn còn mệt, hôm nay mình không nên đến sớm, để cho nàng nghỉ ngơi nhiều thêm cũng tốt”. Chàng nghĩ thế nên quyết định đi dạo trước chùa Đại Tướng Quốc, lúc mới quen Vũ Thường cũng ở quanh đây, nhưng thật không ngờ bây giờ lại thân quen đến vậy? Việc đời thực khó dự liệu.

Chàng đang chìm trong suy tư thì có người gọi:

– Quan nhân, mua chút đồ trang sức đi.

Địch Thanh xoay người nhìn lại, mới phát hiện mình đã đi đến trước quầy ngọc.

Trước chùa Đại Tướng Quốc có đủ loại hình mua bán, muôn hình vạn trạng, cái gì cũng có. Từ các loại chim mèo chó bình thường đến chim quý thú hiếm, từ hoa quả khô mứt đến lụa là châu ngọc, rực rỡ muôn màu, cần cái gì có cái đó. Đại Tống yên bình mấy chục năm, nghệ nhân và thương nhân khắp cả nước đều đến kinh thành, khiến cho phủ Khai Phong phồn hoa chưa từng thấy.

Trước đây do tâm tình buồn chán, Địch Thanh gặp cảnh náo nhiệt đều sẽ tránh sang một bên, đi tìm rượu giải sầu. Mặc dù lần này bị hãm hại, nhưng được Vũ Thường an ủi nên trong lòng cảm thấy vui vẻ. Khi nhìn cảnh vật nơi đây thì tâm tình tự nhiên cũng khác với trước kia. Thấy quầy ngọc này có treo đầy mỹ ngọc, nổi bật rực rỡ trong cảnh tuyết trắng xóa này, chàng quyết định ngồi xuống xem.

Người bán ngọc là người đàn ông trung niên khoảng bốn mươi tuổi, dáng vẻ khôn khéo. Người này thấy Địch Thanh có hứng thú liền cầm lấy một miếng ngọc đưa tới giới thiệu:

– Khách quan, ngài xem miếng ngọc này được chế tác tinh xảo biết bao, trông như Phật thủ(đầu Phật), nó được đào lên từ trên núi Côn Luân rồi đem xuống đây đó.

Địch Thanh nhìn thấy ngọc Phật thủ thì khẽ run. “Đời mình không tín Phật, nhưng lại gắn bó khăng khít với Phật, bất kể chuyện tốt hay chuyện xấu gì cũng có dính dáng tới Phật Di Lặc. Chàng lại nhìn sang bên, thấy đồ ngọc muôn hình vạn trạng toát ra thần vận đặc trưng, trên bề mặt chạm đủ các kiểu hoa văn; cái thì như thương tùng bách thúy(tùng bách xanh um), cái thì như mãnh hổ hạ sơn, cái thì như mực đậm vẩy ra, có cái lại như trúc non xanh mượt, tất cả đều đẹp nhưng chàng không thích.

Người đàn ông bán ngọc không ngại cực khổ giới thiệu tiếp:

– Khách quan, nếu ngài không thích miếng này cũng không sao, ngài xem ở đây còn có rất nhiều loại nè, đây là Lam điền ngọc, đây là Kỳ liên ngọc, lấy màu lục làm chủ đạo, loại lục nào cũng có hết, lục đậm, lục nhạt, lục biếc, lục sẫm… Ngài xem màu sắc này, tinh khiết làm sao…

Địch Thanh không để ý đến lời giới thiệu của người đàn ông mà ánh mắt dừng lại trên một miếng lục ngọc. Dù lục ngọc này không phải là Kỳ liên ngọc, nhưng cũng có màu lục sẫm, sắc thái nhu hòa, càng độc đáo đó là miếng ngọc này có một khối vàng nhạt nằm ẩn trong đó. Địch Thanh cầm lên xem, cảm thấy miếng ngọc này như một chậu hoa, trong lá xanh lộ ra hoa vàng. Địch Thanh vừa nhìn đã thích, liền hỏi:

– Miếng ngọc này bán nhiêu vậy?

Người đàn ông vội đáp:

– Khách quan quả nhiên có nhãn lực tốt, đây là Nam dương ngọc chính tông, phẩm chất rất tốt, ngài nhìn mặt này nè… đẹp không thể tả.

Đây là một miếng tạp ngọc, mặt ngoài còn có vết ngấn rất nhỏ nhưng nếu không chú ý kỹ thì sẽ nhìn không ra. Người đàn ông thầm cười Địch Thanh không có nhãn lực, nhưng nếu khách hàng đã chọn thì không có lý do gì mà không lấy giá cắt cổ:

– Nếu như người khác hỏi giá, miếng ngọc này ít nhất cũng phải mười lượng bạc. Nhưng với khách quan, ngài trả cho tôi tám lượng là được rồi?

– Tám lượng bạc?

Địch Thanh giật mình, không ngờ rằng một miếng ngọc lại mắc đến thế. Chàng là Thập tướng, lương một tháng cũng chỉ có ba lượng bạc mà thôi. Địch Thanh xưa nay phóng khoáng rộng rãi, khoảng thời gian trước vất vả lắm mới dành dụm được một ít, nhưng đều đã gửi về quê cho đại ca. Trước mắt, chàng không còn dư giả cho lắm, làm sao có nhiều bạc như vậy để mua ngọc chớ?

Người đàn ông thấy Địch Thanh có vẻ bối rối, vội nói:

– Tất nhiên giá tiền có thể thương lượng. Bảy lượng được không?

Địch Thanh lắc đầu nói:

– Trả cho ông một lượng thì được.

Người đàn ông kia khó xử nói:

– Một lượng bạc ít quá, quan nhân thêm chút nữa nha. Như vậy đi, hai lượng bạc chắc giá, không mặc cả nữa, nếu chỉ có một lượng thì ngay cả vốn cũng không đủ.

Khó lắm mới tìm được miếng ngọc mình thích, nên Địch Thanh không trả giá nữa, sảng khoái nói:

– Được.

Tiếp đó chàng thò tay vào trong ngực tìm kiếm, nhưng moi hết tiền ra đếm mới phát hiện cộng lại ngay cả một lượng cũng không đủ.

Người đàn ông lập tức cảm thấy khó chịu, chồm tới lấy ngọc lại, nói lầm bầm:

– Không có tiền thì đến đây làm gì?

Nghe thấy lời xấc láo của gã, chàng trừng mắt lên định mắng, nhưng nghĩ lại, tranh đấu với loại người này thì có ích gì chứ? Hơn nữa, lỗi là ở phần mình, trong người còn bao nhiêu bạc cũng không biết, trách không được Vũ Thường nói mình hồ đồ.

Không còn cách nào khác, Địch Thanh đành đứng dậy chuẩn bị rời đi. Người đàn ông nói mãi mà không thu được gì, nên bực bội mắng thêm một câu:

– Vừa nhìn đã biết nghèo kiết xác!

Lời còn chưa dứt, từ bên cạnh có một bàn tay mập mạp trắng trẻo chìa tới, trên tay cầm một đĩnh bạc lớn hỏi:

– Bằng này đủ mua ngọc rồi chứ?

Chương 16 : Tình cờ

Địch Thanh quay đầu nhìn lại, sắc mặt hơi đổi.

Người cầm bạc là người họ Diêm, Địch Thanh biết hắn, mà người bên cạnh người họ Diêm, không phải Thánh công tử, người đã hại chàng vào tù sao? Địch Thanh nổi giận xông tới nắm chặt cổ áo của Thánh công tử, hét lên:

– Ngươi còn mặt mũi nào đến gặp ta?

Thánh công tử hoảng hốt, lắp bắp:

– Địch Thanh…đừng đánh, có…có chuyện gì thì bình tĩnh thương…thương lượng. Ta… ta có nỗi khổ trong lòng, ngươi nghe ta giải thích được không?

Địch Thanh vung tay định đánh, nhưng nhìn thấy bộ dạng đáng thương của Thánh công tử thì mềm lòng quát:

– Ngươi có biết ta vì ngươi mà ngồi tù hơn nửa năm không? Ngươi đừng có nói là khoảng thời gian này ngươi rời khỏi kinh thành nên không biết chuyện đó nhé!

Chợt ở bên cạnh có một người quát lên:

– Ngươi buông tay ra đi đã.

Địch Thanh liếc qua thấy có thêm một người đang đứng bên cạnh Thánh công tử. Khuôn mặt người này ngăm đen, tuổi trung niên, rất có dáng dấp thuộc hạ, chàng cười lạnh hỏi:

– Sao nào? Trong lòng hổ thẹn? Sợ bị ta đánh nên dẫn bảo tiêu theo?

Thánh công tử lắc đầu đáp:

– Đâu có, đâu có, đây là Lý Dụng Hòa, là bà con xa của ta, đi dạo kinh thành cùng ta mà thôi.

Người mặt ngăm đen nghe Thánh công tử nói vậy thì lộ vẻ rất ngạc nhiên, nhưng lập tức cúi đầu xuống, không cho người ta nhìn thấy vẻ mặt của hắn.

Địch Thanh cũng không chú ý tới điều đó, nhưng tay cũng buông lỏng ra một chút. Mặc dù chuyện xảy ra trước đây là do Thánh công tử dấy lên, song cũng không thể đổ hết lên đầu hắn. Điểm duy nhất làm cho Địch Thanh không hài lòng là khi đó Thánh công tử không đứng ra giúp chàng. Nói vậy thôi chứ ngay cả Bát Vương gia ra mặt mà Địch Thanh vẫn không tránh khỏi bị giam nửa năm trong ngục, Thánh công tử ra mặt thì có ích gì?

Nghĩ đến đây, Địch Thanh bình tĩnh lại, nhưng rồi cảm thấy Thánh công tử không trọng nghĩa, liền phì mồm:

– Ngươi không cần giải thích chi nữa, chuyện đã qua lâu rồi, ngươi là ngươi, ta là ta, đường ai nấy đi.

Chàng vừa xoay người định đi thì Thánh công tử vội chụp lấy miếng ngọc kia đưa tới trước mặt Địch Thanh, giọng chân thành:

– Địch Thanh, ta biết miếng ngọc này không bồi thường được gì cho ngươi cả, nhưng ta thật lòng xin lỗi ngươi, hi vọng ngươi có thể hiểu được tấm lòng của ta.

Địch Thanh chăm chú nhìn miếng ngọc một lúc rồi mỉm cười nói:

– Vậy ta không cần phải cám ơn ngươi?

Thánh công tử đỏ mặt, ho nhẹ:

– Diêm tiên sinh, ta nhớ trong ngực ông có quyển sách?

Sắc mặt Diêm tiên sinh khẽ đổi, ngượng nghịu lấy hộp sách từ trong ngực ra. Thánh công tử cầm lấy đưa cho Địch Thanh:

– Địch Thanh, quyển sách này tặng cho ngươi.

Địch Thanh không nhận, nhưng thấy vẻ mặt áy náy của Thánh công tử thì mềm lòng:

– Ngọc ta nhận, còn sách thì không cần.

Thánh công tử kiên quyết nhét hộp sách vào tay Địch Thanh, chậm rãi nói:

– Ta thấy ngươi cũng rất khó khăn, sách này ngươi dùng được đó.

– Thay vì ngươi cho ta quyển sách này thì không bằng đưa ta một ít bạc đi.

Địch Thanh thở dài rồi nói tiếp:

– Ta không thi Trạng nguyên thì cần sách làm gì?

Lời còn chưa dứt thì Địch Thanh cảm thấy hộp sách trên tay khá nặng, nhịn không được mở ra nhìn.

Một luồng ánh sáng vàng nhạt chiếu ra.

Địch Thanh rùng mình, tưởng rằng Kim long lại xuất hiện trong đầu nữa. Chàng cẩn thận nhìn kỹ lại, lúc này mới phát hiện trong hộp sách là từng tấm vàng lá. Trong hộp sách này có xếp hơn mười lượng vàng.

Ở Đại Tống, vàng rất quý, hơn mười lượng vàng này tương đương với mấy trăm lượng bạc. Lương làm Thập tướng trong hai mươi năm của Địch Thanh mới có thể miễn cưỡng kiếm được bằng này vàng. Địch Thanh cầm tấm vàng lá nhìn một lúc, rồi mới nói:

– Ngươi làm gì thế? Ta là người tham tiền đến thế sao?

Thánh công tử cười xòa nói:

– Chút tấm lòng, cũng không đủ thể hiện lòng thành của ta.

Địch Thanh định trả lại cho Thánh công tử, nhưng chợt thay đổi ý nghĩ, bèn cất hộp sách vào trong ngực nói:

– Ôi, thịnh tình không thể chối từ. Ta tha thứ cho ngươi đó, lần sau không được làm vậy nữa. Ta có việc, đi trước đây.

Chàng thầm nghĩ: “Tặng lễ vật cho người, tất có chuyện nhờ vả. Thánh công tử này đột nhiên xuất hiện tìm mình, chắc là có việc nhờ mình làm giúp. Lần trước, đi Trúc Ca lâu thì bị vào tù hơn nửa năm, lần này dù cho nói như thế nào đi chăng nữa cũng không giao du với hắn. Vàng mà, không lấy thì phí.”

Thánh công tử thấy Địch Thanh rời đi, vội gọi:

– Địch Thanh, ta có việc nhờ.

Hắn không gọi không sao. Hắn vừa gọi, Địch Thanh chuồn càng nhanh hơn.

Diêm tiên sinh mắng:

– Tên tiểu tử này không đàng hoàng.

Thánh công tử dậm chân nói:

– Trời ơi, ta còn chuẩn bị xin cho hắn làm quan…

Lời còn chưa dứt, Địch Thanh đã lại xuất hiện ở trước mặt Thánh công tử, cười nói:

– Ôi chao, Thánh công tử, dạo này lỗ tai ta có vấn đề, mới vừa rồi không nghe thấy ngươi gọi. Ngươi vừa nói cái gì cơ?

Lỗ tai Địch Thanh không phải có vấn đề, mà là quá thính. Chàng đã chuồn được nửa đường, nhưng vẫn nghe thấy lời Thánh công tử xin quan cho chàng, tim không khỏi đập thình thịch.

Địch Thanh vốn không phải là người tham tiền tham quan, nhưng con người luôn luôn thay đổi. Chàng biết Vũ Thường không để ý đến thân phận của chàng, nhưng còn người nhà của Vũ Thường thì sao chứ? Có vì nguyên nhân này mà xem thường Vũ Thường không? Địch Thanh có suy nghĩ như vậy nên mới có nhiệt huyết muốn tiến thủ. Chàng cảm thấy Thánh công tử có quyền có thế, nói không chừng thật sự có thể giúp chàng làm quan.

Diêm tiên sinh hừ lạnh một tiếng hỏi:

– Không phải ngươi có việc sao?

Địch Thanh mặt dạn mày dày đáp:

– Thánh công tử có việc, dù sao đi nữa thì ta cũng phải xem coi có thể giúp đỡ được gì hay không?

Thánh công tử không tức giận, trong mắt có ý cười, nói:

– Địch Thanh, ngươi giúp ta vượt khó, ta trả cho ngươi bạc, tặng ngươi ngọc, coi như không ai nợ ai.

– Cho nên, ta muốn làm quan thì phải giúp ngươi làm việc, đúng không?

Địch Thanh hiểu lời bóng gió của Thánh công tử nên hỏi.

Thánh công tử nghiêm túc gật đầu nói:

– Đúng, cuộc giao dịch này có thể làm, thành giao!

– Cứ từ từ, ngươi trước hết hãy nói xem muốn ta làm chuyện gì, sau đó nói thử xin cho ta chức quan gì? Rồi ta mới tính tiếp.

Thánh công tử nói:

– Ta muốn ngươi dẫn ta đến Trúc Ca lâu!

Địch Thanh quay đầu đi ngay tấp lự, nhưng vừa đi được mấy bước thì dừng lại, bởi vì Thánh công tử nói tiếp:

– Ta có thể xin cho ngươi chức quan Điện tiền Tán Trực!

Một lúc sau, Địch Thanh mới xoay người lại nhìn Thánh công tử chăm chăm:

– Ngươi không gạt ta?

Thánh công tử nói rõ từng chữ:

– Tuyệt không lừa gạt.

Địch Thanh có chút do dự, chàng không thể không động lòng. Tán Trực được liệt vào thân binh của Hoàng thượng, trực tiếp phụ trách an toàn hoàng cung, địa vị cao hơn rất nhiều so với chức Thập tướng trong quân doanh. Người theo nghiệp binh, muốn làm Tán Trực thì chẳng những phải phấn đấu mười mấy năm mà còn phải có cơ hội thích hợp. Bây giờ, cơ hội lại đột nhiên đáp vào đầu, chàng nhận hay là không đây?

Diêm tiên sinh thấy thế, cười lạnh nói:

– Ngươi đừng có giả bộ thần bí nữa, nếu muốn gặp Trương Diệu Ca thì cũng phải thể hiện ra chút bản lĩnh mới được.

Địch Thanh chống hông, ngang nhiên nói:

– Đầu ngươi bị cánh cửa kẹp, ta thì không bị. Hôm nay, ta sẽ cho ngươi thấy bản lĩnh của ta.

Mọi người lập tức lên đường đến Trúc Ca lâu, Thánh công tử buồn cười, nhưng cố nhịn xuống. Lúc này thì sắc mặt của Diêm tiên sinh còn đen hơn cả Lý Dụng Hòa. Gã hơi béo, đầu hình thang, đúng là nhìn qua trông như bị cánh cửa kẹp.

Dù giọng điệu rất tự tin, nhưng thật ra trong lòng Địch Thanh không nắm chắc lắm. Hồi đó, chàng đã lừa Phượng Sơ Ảnh một lần. Bây giờ, nếu muốn lừa mụ thêm lần nữa thì khó như lên trời. Nhưng ‘có chí làm quan, có gan làm giàu’, nếu không thử thì cả đời này khi nào mới có thể ngóc đầu lên được? Chàng đang đắm mình trong suy nghĩ thì đã gần đến Trúc Ca lâu. Mọi người vừa định đi vào, song Thánh công tử chợt biến sắc, lách mình trốn sang một bên. Diêm tiên sinh và Lý Dụng Hòa cũng giống như kẻ cướp, lật đật lao theo, trốn chung một chỗ với Thánh công tử.

Một người dáng vẻ công tử đi ra khỏi Trúc Ca lâu, rồi lên xe ngựa nghênh ngang rời đi. Địch Thanh thấy Thánh công tử dán mắt nhìn công tử kia, ánh mắt rất kì quái thì nhịn không được hỏi:

– Thánh công tử, ngươi biết hắn sao?

Chàng thấy vị công tử lên xe ngựa kia, mày kiếm mắt sáng, tuấn tú lịch sự, mỗi động tác đều ôn hòa tao nhã, loại công tử trăng hoa như Mã Trung Lập tuyệt đối không thể sánh bằng.

Thánh công tử ho khan một cái, sắc mặt khôi phục bình thường, miệng lẩm bẩm:

– Sao hắn lại có thể tới chỗ này chứ?

Ánh mắt hắn chợt quắc lên, nói tiếp:

– Tới hay lắm.

Địch Thanh không hiểu hỏi:

– Ngươi cũng có thể tới nơi này, còn có ai không thể tới chứ?

Thánh công tử lắc đầu, nói tránh đi:

– Đi vào đi! Địch Thanh, ngươi có cách gì chưa?

Địch Thanh cũng không trả lời mà đi thẳng vào Trúc Ca lâu. Khi vào tới bên trong, Địch Thanh chợt nảy ra một ý, chàng ngăn một tỳ nữ lại:

– Ta là Địch Thanh, ngươi gọi Phượng Sơ Ảnh ra đây.

Tỳ nữ này nghe thấy hai chữ “Địch Thanh” thì giật mình kinh hãi, vội vàng đi ra hậu đường. Chẳng bao lâu sau, Phượng Sơ Ảnh đi ra, Diêm tiên sinh ở bên cạnh cười lạnh, chỉ muốn nhìn xem Địch Thanh mất mặt đến mức nào. Cùi không sợ lở, Địch Thanh vừa định đọc bài đã nghĩ sẵn trong đầu ra thì Phượng Sơ Ảnh đột nhiên nở một nụ cười xán lạn, nói:

– Ôi chao, đây không phải là Địch công tử sao? Đã lâu không gặp, mừng ngài lại đến.

(hậu đường; khu vực nhà phía sau)

Địch Thanh nghệch mặt ra, lời vừa định nói liền nuốt trở vào.

Phượng Sơ Ảnh cười nói:

– Diệu Ca cô nương vẫn luôn nhắc tới ngài. Nàng nói nếu ngài đến thì không cần phải chờ đợi, cứ trực tiếp đi gặp là được. Ngài nhất định phải nể mặt mà đến gặp Diệu Ca nhé.

Mặt Diêm tiên sinh đang đen liền chuyển thành xanh, y không hiểu nổi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

Địch Thanh cũng không hiểu đầu cua tai nheo gì sất. Có điều bây giờ chàng tất nhiên sẽ không từ chối, mỉm cười nói:

– Phượng lão bản, bà quả là người hiểu chuyện.

Tuy vậy, chàng lại nghĩ thầm: “Chẳng lẽ đang có đao phủ mai phục trên lầu, chờ khi mình đi lên thì chém mình thành thịt vụn? Nếu không thì cớ sao Trương Diệu Ca chỉ mới gặp mình một lần, nhìn qua cũng không thuộc dạng mê trai, sao lại muốn gặp mình chứ?”

Phượng Sơ Ảnh dường như nhận ra Địch Thanh đang nghi hoặc, bà ta cười xòa nói:

– Địch công tử, nhưng bây giờ trên lầu của Diệu Ca có người, ngài tạm thời không thể đến.

Địch Thanh thầm giật mình, cố trấn tĩnh hỏi:

– Là ai?

Phượng Sơ Ảnh nhíu mày:

– Người này… có lẽ Địch công tử không biết đâu, nhưng y nhất định sẽ xuống ngay thôi. Tiểu Liên, mau dẫn ba vị công tử này đến Thính Trúc tiểu viện ngồi chờ. Địch công tử, mụ xin lỗi không thể tiếp chuyện được.

Phượng Sơ Ảnh nói xong, vội vàng rời đi. “Người như thế cứ để Diệu Ca tống cổ đi là được. Xin Phật phù hộ, ngàn vạn lần đừng để Mã gia biết con từng qua lại với tên Địch Thanh này. Tuy mụ sợ Mã gia, nhưng lần này để cho Địch Thanh đi gặp Trương Diệu Ca, cũng là thân bất do kỷ.

Đám người Địch Thanh tất nhiên không biết suy nghĩ của Phượng Sơ Ảnh. Trong lòng cũng có chút kỳ quái, khó thể tin chuyện lại đơn giản như vậy.

Diêm tiên sinh cau mày nói:

– Đơn giản như đang giỡn. Có lẽ nào đây là bẫy?

Lý Dụng Hòa mặt đen gật đầu nói:

– Đúng vậy, chuyện này kỳ quái thiệt.

Thánh công tử gấp quạt lại gõ đầu hai gã, cười mắng:

– Các ngươi quá đa nghi rồi, Địch Thanh là anh hùng, Trương Diệu Ca là mỹ nữ, từ xưa tới nay mỹ nữ yêu anh hùng, có gì đáng ngờ hay sao?

Khi hắn nhát gan thì so với chuột còn cẩn thận hơn, nhưng khi lớn gan thì giống như ăn phải gan báo.

Mọi người đi theo Tiểu Liên đến Thính Trúc tiểu viện. Trước Thính Trúc tiểu viện, tuyết phủ trúc cong, vạn hoa ngàn thảo điêu linh, mà lá trúc thì như mũi tên, phá tan cái lạnh nổi bật trên nền tuyết trắng, khiến cho ngày đông bừng bừng sinh cơ.

Thánh công tử khen:

– Không đi ra ngoài sao có thể nhìn thấy cảnh đẹp thế này?

Địch Thanh không có tâm tình thưởng thức, tròng mắt xoay chuyển nói:

– Thánh công tử à, chuyện ngươi muốn ta làm, ta đã lo xong cho ngươi, mong rằng ngươi đừng quên lời hứa của mình. Ngươi đi lên trên là có thể gặp được Trương Diệu Ca rồi, ta không lên đâu.

Thánh công tử vội vàng kéo Địch Thanh lại:

– Vừa rồi ngươi không nghe sao? Người ta nói chỉ muốn gặp ngươi. Dù thế nào đi nữa thì ngươi cũng phải đi với ta lên trên đó, đợi đến khi nào người ta không đuổi khách mới được.

Vì kế hoạch thăng quan, Địch Thanh đành phải chờ đợi. Trên lầu có tiếng động vang lên, một người nhẹ nhàng đi xuống, người này miệng rộng, đầu to, lỗ mũi hướng lên trời, trông rất quái dị. Địch Thanh vừa thấy, giật mình kêu lên:

– Sao hắn lại đến nơi này?

Người này chính là Thổ Phiên tăng – Bất Không. Địch Thanh thầm nghĩ, Trương Diệu Ca này làm ăn phát đạt thật, ngay cả Bất Không cũng đến ủng hộ. Nhưng Bất Không đến nơi này làm gì, chẳng lẽ cũng muốn nghe Trương Diệu Ca đánh đàn sao? Chàng cảm thấy không có khả năng này, nhưng nhớ tới lời nhắc nhở của Quách Tuân, Địch Thanh không muốn nhiều chuyện nên cúi đầu xuống.

Lần này Bất Không ít phô trương hơn và cũng không có mặc quần áo của Lạt Ma, thoạt nhìn trừ diện mạo có chút quái dị ra thì không khác biệt lắm so với người bình thường.

Diêm tiên sinh ở bên cạnh nói:

– Ngươi cũng có thể đến, còn có ai không thể đến?

Vừa rồi Địch Thanh dùng câu này để nói với Thánh công tử, Diêm tiên sinh dường như nhìn Địch Thanh không vừa mắt nên mượn cớ châm chọc.

Thánh công tử hỏi:

– Địch Thanh, ngươi biết người này à? Hắn là ai vậy?

Địch Thanh cau mày đáp:

– Ta…không biết.

Thánh công tử bỗng phì cười, vừa định nói thêm gì đó thì đúng lúc này Bất Không lướt qua bên cạnh. Gã liếc Thánh công tử một cái. Thánh công tử cảm thấy trong đôi mắt này có ẩn chứa ma lực kì bí, ngay cả nói chuyện cũng quên luôn. Khi Bất Không nhìn thấy Thánh công tử thì ánh mắt lộ ra vẻ kinh ngạc, nhưng bước chân không dừng lại, thoáng cái đã đi xa.

Thánh công tử lắc đầu, vừa phục hồi lại tinh thần liền nhớ tới Trương Diệu Ca, đưa tay kéo Địch Thanh, sốt ruột nói:

– Đến lượt chúng ta rồi.

Địch Thanh cười khổ, đành phải cùng Thánh công tử đi lên lầu. Khi đến trước rèm che, gió thổi rèm động, tiếng va chạm lao xao thanh thúy như băng. Vén rèm ngọc lên, không khí trong phòng ấm áp như xuân.

Trương Diệu Ca đang thả lỏng cơ thể, biếng nhác ngồi ở trước đàn, thấy bốn người bước vào thì yểu điệu nói:

– Thiếp thân hơi mệt, xin thứ lỗi vì không thể đứng dậy nghênh tiếp.

Trương Diệu Ca mặc váy thêu mỏng màu lục nhạt, dáng ngồi nhàn nhã, thân mình mảnh mai thon thả lộ hết ra. Mặt nàng chỉ trang điểm nhẹ như hoa chớm sắc xuân, nữ trang hình hoa mai buông thả trên trán làm cho vẻ lười nhác thờ ơ đó mang theo một khí chất diễm lệ kinh người.

Thánh công tử vội hỏi:

– Diệu Ca tiểu thư đã xem bệnh chưa? Tại hạ biết mấy vị lương y, nếu cô đồng ý, tại hạ sẽ lập tức mời họ đến xem bệnh cho cô nương.

Trương Diệu Ca dịu dàng lắc đầu, tay gẩy dây đàn hát vài câu:

– Tử huệ tư ngã, khiên thường thiệp trăn. Tử bất tư ngã, khởi vô tha nhân? (1)

(1) Chàng nhớ thương em, xắn áo vượt sông. Chàng không còn nhớ, bao kẻ ngóng trông?

Làn điệu đều đều, không có trầm bổng cao trào như lần đầu tiên nghe được.

Thánh công tử cũng chưa từng nghe qua khúc nhạc này, chỉ cảm thấy âm điệu êm dịu, quanh co uốn lượn, không khỏi vỗ tay khen hay.

Địch Thanh nghe thấy thì khẽ giật mình. Nếu như là mấy tháng trước, Địch Thanh tuyệt đối không hiểu hàm ý trong lời hát của Trương Diệu Ca, nhưng dạo này chàng đọc Kinh Thi không ít nên nghĩ mấy câu hát này có lẽ cũng nằm ở trong đó. Ý nghĩa của nó hình như là: ‘nếu chàng nhớ em thì phải không ngại cực khổ mà vén áo vượt sông tìm em, nếu chàng không cần em, chẳng lẽ không có người khác nhớ em sao?’

Bốn câu thơ này vốn là lời thổ lộ mạnh dạn của thiếu nữ với người mình yêu, giờ Trương Diệu Ca bỗng hát ra làm cho Địch Thanh nghe chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả. Nơi này làm gì có đối tượng cho Trương Diệu Ca thổ lộ chứ?

Trương Diệu Ca nghe Thánh công tử trầm trồ khen ngợi thì mĩm cười nói:

– Hóa ra Thánh công tử còn là người tao nhã. Vậy thiếp thân sẽ đàn thêm một khúc để tặng công tử…

Nói xong, cổ tay nàng nhẹ nhàng gảy lên dây đàn. Đàn này là vật chết, nhạc khúc thì lại là vật sống, lên xuống không ngừng, vang vọng trong gian lầu ấm áp, tràn đầy linh cảm. Điệu hát vừa dừng, Trương Diệu Ca lại nhỏ giọng ngâm:

– Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung. . .

Địch Thanh đang ngắm nghía miếng ngọc vừa mới mua cho đỡ nhàm chán, chợt nghe hai câu hát này thì giật cả mình, nhịn không được ngẩng đầu lên nhìn. Sóng mắt long lanh mờ ảo của Trương Diệu Ca đang lay động trên mặt Địch Thanh, đôi tay vẫn gảy đàn không ngừng, nhưng mà ngâm xong hai câu đó nàng lại không hát tiếp nữa.

Thánh công tử không biết xuất xứ hai câu này, đang nhíu mày suy nghĩ thì thấy Địch Thanh có vẻ đăm chiêu, hỏi nhỏ:

– Địch huynh, ngươi nói xem hai câu ‘Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung’ này nghĩa là gì?”

Địch Thanh thản nhiên cười:

– Ta không biết.

Thánh công tử nhìn ra có vấn đề, khích tướng:

– Ta cũng nghĩ là ngươi không biết, vốn định hỏi thử xem ngươi biết không, nếu ngươi biết thì lúc xin quan cho ngươi còn có thể xin thêm cái quan hàm Vũ Kỵ Úy.

Dứt lời, hắn giả bộ liên tục lắc đầu ra vẻ tiếc rẻ lắm.

Hai mắt Địch Thanh sáng ngời, hỏi:

– Ngươi nói thật chứ?

Thánh công tử lập tức đáp:

– Đương nhiên.

Địch Thanh mừng rỡ, thầm nghĩ đọc sách hay thật, lần này lại lượm được chỗ tốt. Thì ra Vũ Kỵ Úy là huân quan(2), huân quan là thiếp chức(kiêm chức)(3), tuy có danh không quyền nhưng được nhận bổng lộc. Vừa rồi Địch Thanh sợ phiền toái nên không muốn nói, lần này tự dưng lại có được cơ hội thăng tiến, đương nhiên không thể bỏ qua, trả lời:

– Đây vốn là hai câu của bài « Thảo Trùng » trong « Kinh Thi », hai câu cuối là ‘Vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung’. Ha ha, Đừng có quên chuyện mà ngươi đã đáp ứng ta đó nhé.

(3) Thiếp chức: chức vị kèm theo một chức vị có sẵn khác.

Nghe bốn câu này rất ăn khớp hợp vần, không giống như Địch Thanh bịa đặt lung tung, Thánh công tử cũng có chút khâm phục Địch Thanh, liền mở lời tán dương:

– Không ngờ ngươi cũng văn võ song toàn đó?

Địch Thanh nói khoác mà không biết ngượng nói:

– Tất nhiên.

Quay qua nhìn Trương Diệu Ca đang đánh đàn, Thánh công tử đột nhiên lấy tay gõ bàn, hòa theo nhịp điệu mà ngâm:

– Yêu yêu thảo trùng, địch địch phụ chung, vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung. Diệu Ca tiểu thư đánh đàn rất hay, khó có được khúc ý như tuyết, ẩn có nét xưa.

Hắn có nghiên cứu về âm luật, bên xướng bên hoạ, cực kỳ ăn ý. Trong lúc đàn hát, hắn thầm nghĩ: “Không biết Trương Diệu Ca đang nhớ ai, có phải là Địch Thanh hay không?”

Trong mắt Trương Diệu Ca hiện lên vẻ kinh ngạc, cổ tay khẽ vạch, dư âm chưa dứt đã dịu dàng cười nói:

– Thánh công tử tài hoa bất phàm, thiếp thân bội phục.

Thánh công tử thầm kêu xấu hổ, vừa định khiêm tốn vài câu thì Trương Diệu Ca quay qua nói với Địch Thanh:

– Địch quan nhân, trên tay ngài là vật gì thế, có thể cho thiếp thân xem được chăng?

Địch Thanh thấy người ta lễ độ, không nỡ từ chối, vừa đưa vừa nói:

– Chỉ là một miếng ngọc mới mua mà thôi.

Trương Diệu Ca nhận lấy ngọc bội, nhìn một lúc rồi nói: “Ngọc này đẹp thật, hoa văn xanh như sóng, sắc vàng như hoa, vết ngấn như lệ. Trước đây, thiếp chỉ gặp một miếng ngọc giống thế, gọi nó là Nhãn Nhi Mị (mắt xinh), đáng tiếc… đã mất rồi. Địch quan nhân, ngài thật tinh tường.

Nàng vừa khen vừa vuốt ve miếng ngọc không ngừng, rõ ràng cực kỳ yêu thích nó.

Thánh công tử thầm nghĩ tên tiểu tử Địch Thanh này không biết có chỗ nào hay mà làm cái gì cũng được con gái thích. Mình phong lưu phóng khoáng, đẹp trai nhiều tiền, sao Trương Diệu Ca không khen mình vài câu? Tiền mua miếng ngọc này là của mình đó.

Thấy Địch Thanh đứng đần ra, Thánh công tử lấy tay huých Địch Thanh:

– Ngươi cũng nên nói vài lời đi chứ.

Thánh công tử có ý ra hiệu Địch Thanh tặng miếng ngọc này cho giai nhân, không ngờ Địch Thanh lại nói:

– Trương cô nương, cô xem xong chưa? Miếng ngọc này … trả lại cho tại hạ nhé?

Chàng thấy sắc trời đã muộn, vì nóng lòng đến gặp Dương Vũ Thường nên thúc giục.

Thánh công tử thiếu chút nữa đạp cho Địch Thanh một đạp, nhìn vẻ mặt buồn bã của Trương Diệu Ca, Thánh công tử vội hỏi:

– Địch huynh, chẳng phải khi nãy huynh mua nó với giá hai lượng bạc sao? Ta trả huynh hai lượng coi như là tiền mua lại miếng ngọc này để tặng cho Diệu ca cô nương, ý của huynh thế nào?

Địch Thanh lắc đầu:

– Bao nhiêu tiền cũng không bán!

Thánh công tử còn định nói thêm, Trương Diệu Ca đã chìa cánh tay thon thả đưa miếng ngọc ra:

– Địch quan nhân, ngài cất ngọc đi.

Địch Thanh cầm lấy miếng ngọc:

– Diệu Ca cô nương, tại hạ còn có việc, chào cô.

Trương Diệu Ca buồn bã nói:

– Địch quan nhân không thể ở thêm chút nữa sao? Thực ra, thiếp…

Nàng chưa nói xong, Địch Thanh đã ngắt lời:

– Tại hạ còn có chuyện quan trọng, không thể chậm trễ.

Thánh công tử ở bên cạnh liền lên tiếng:

– Tại hạ thì không bận việc gì.

Trương Diệu Ca thở dài:

– Thiếp thân cũng mệt rồi. Liên Nhi, tiễn khách.

Thánh công tử cũng đành thở dài thườn thượt, ngượng ngùng đi theo Địch Thanh xuống lầu.

Tiễn mọi người xuống lầu xong, lúc đi lên lại, Liên Nhi phẫn nộ nói:

– Tiểu thư, tên Địch Thanh này thật kiêu ngạo phách lối, tiểu thư muốn giữ hắn lại, vậy mà hắn không chịu ở lại.

Trương Diệu Ca gẩy đàn tính tình tinh mấy tiếng, tiếng đàn chưa dứt thì nói:

– Địch Thanh ở lại hay không cũng không sao, ta vốn định dò la chút tin tức về Quách Tuân từ Địch Thanh, nhưng ta cảm thấy có lẽ Địch Thanh cũng không biết gì về Quách Tuân đâu. Bất Không này thật phiền toái, e rằng y sẽ còn đến tìm ta.

Liên nhi thấp giọng hỏi:

– Sao chúng ta phải sợ hắn?

Trương Diệu Ca chỉ tiếp tục đánh đàn, khe khẽ thở dài, nhưng tiếng đàn không còn tình cảm, không còn sức sống nữa, mà ngược lại lộ ra cảm giác lạnh lẽo thấu xương.

Sau khi xuống lầu, Thánh công tử tức giận nói:

– Địch Thanh, ngươi ngu hết chỗ nói. Trương Diệu Ca thích miếng ngọc này, sao ngươi không tặng cho nàng đi?

Địch Thanh cau mày:

– Ta còn thích bạc đó, ngươi có sao không tặng cho ta?

Thánh công tử hơi kinh ngạc, chưa kịp trả lời, Địch Thanh nói tiếp:

– Ngươi nợ ta chức Tán Trực và Vũ Kỵ Úy đấy, nhớ trả cho ta! Người sống ở kinh thành, điều quan trọng nhất là phải giữ chữ tín, ta chờ tin tức của ngươi.

Nói xong, chàng nghênh ngang rời đi.

Thánh công tử định gọi Địch Thanh lại, không ngờ có người đột nhiên xông tới. Lý Dụng Hòa vẫn luôn trầm mặc, trông thấy vậy liền ngăn ở trước mặt Thánh công tử, quát hỏi:

– Ngươi muốn làm gì?

Người này mỉm cười, nhìn thẳng vào Thánh công tử:

– Ấn đường của vị công tử này sinh đen, e rằng sắp tới sẽ gặp tại nạn đổ máu.

Thánh công tử rùng mình, nhận ra người tới là người vừa từ Trúc Ca lâu đi xuống. Địch Thanh biết người này, nhưng hắn thì không biết.

Diêm tiên sinh quát lớn:

– Nói hưu nói vượn, ngươi là ai?

Hai tay người này kết ấn, mỉm cười đáp:

– Tiểu tăng pháp danh Bất Không!

Thánh công tử ngạc nhiên, nghẹn lời:

– Ngươi… ngươi là Bất Không?

Hai mắt Bất Không nhìn chăm chú vào đôi mắt Thánh công tử, hỏi:

– Công tử biết tiểu tăng sao?

Thái độ của hắn đối với Thánh công tử không ngờ còn nhã nhặn hơn so với Lưu thái hậu. Giọng nói dù vẫn oang oang như tiếng bạt, nhưng đã thu bớt ngạo khí.

Thánh công tử lắc đầu:

– Ta…ta chưa từng gặp ngươi.

Rồi hắn bỗng dưng nhớ tới điều gì đó:

– Ta nghe nói đại sư liệu chuyện như thần, lẽ nào … ta thật sự có nguy hiểm sao?

Đôi mắt Bất Không thoáng hiện vẻ quỷ dị rồi thoắt cái biến mất, thở dài:

– Tiểu tăng gặp được công tử, nhất định có duyên. Mới vừa rồi thấy công tử tại Trúc Ca lâu, đã cảm thấy Thánh công tử có nạn trên người, nên mới đứng chờ ở bên ngoài.

Diêm tiên sinh vừa sợ vừa giận:

– Tên phiên tăng này, nói năng lung tung. Thánh công tử sao có thể gặp nạn chứ?

Bất Không lắc lắc đầu:

– Nếu vị tiên sinh này không tin, tiểu tăng xin cáo từ.

Hắn xoay người định đi, nhưng bị Thánh công tử kéo lại. Vẻ mặt Thánh công tử lạ lùng, trong mắt cũng hiện vẻ hoảng sợ không yên, khàn giọng:

– Cao tăng đừng đi, ta tin ngài mà, mong ngài giúp đỡ tìm cách phá giải.

Bình thường Thánh công tử luôn ung dung, nhưng giờ phút này vẻ mặt lại rất lo âu, tin tưởng lời Bất Không nói là thật. Có thể thấy, hắn quả thực có điều khúc mắc, nếu không thì cũng sẽ không trở nên như vậy. Diêm tiên sinh và Lý Dụng Hòa nhìn nhau, mặt ai cũng đầy ưu sầu…

Địch Thanh thì không có gì phải lo âu như Thánh công tử, thân thể bay bổng, cảm giác nhẹ tựa chim yến đi đến ngõ Mạch Kiết. Thánh công tử xin được chức quan cũng tốt, xin không được cũng chẳng sao, miếng ngọc này vẫn là tấm chân tình trong lòng chàng. Có đôi khi, quan chức và kim tiền há có thể sánh được với chân tình.

Đến trước cửa son Dương phủ, Địch Thanh cúi đầu nhìn lại trang phục của mình. Chàng cảm thấy hơi mặc cảm, thầm nghĩ nếu có người mở cửa thì mình làm sao mở miệng đây? Chần chừ một chút, chàng đi đến chỗ cửa hông mà lần trước đã vào. Gõ cửa, nhưng không nghe thấy bất cứ động tĩnh gì, chàng hơi thất vọng. Sau một hồi lưỡng lự, Địch Thanh vừa chuẩn bị rời đi, bất chợt cửa hông vang lên tiếng kẽo kẹt, rồi mở ra.

Nguyệt nhi nhô đầu ra khỏi cửa, phì mồm:

– Chỉ là một cái cánh cửa mà cũng làm khó được ngươi sao?

Địch Thanh xấu hổ nói:

– Tôi cũng không thể phá cửa đi vào. Nguyệt nhi cô nương, tiểu thư nhà cô có nhà không?

Nguyệt nhi gật gật đầu:

– Có, nhưng có chút vấn đề.

Địch Thanh sốt ruột hỏi:

– Nàng vẫn chưa khỏe sao?

– Ngươi nghĩ có thể khỏe nhanh thế sao?

Nguyệt nhi bĩu môi rồi nói tiếp:

– Nàng đột nhiên bị cảm lạnh đã mấy ngày rồi, vẫn chưa khỏe được. Nhưng bây giờ chuyện khó không phải là bệnh, mà là chuyện khác, phải xem ngươi có thể giúp đỡ hay không?

Địch Thanh lập tức nói:

– Núi đao biển lửa, tuyệt không chối từ!

Rốt cuộc Nguyệt nhi cũng nở nụ cười:

– Không uổng công tiểu thư nhà ta quan tâm ngươi như thế, đi theo ta.

Nói xong liền dẫn Địch Thanh vào cửa hông, đi thẳng tới tiền đường. Địch Thanh không hiểu hỏi:

– Nguyệt nhi cô nương, chúng ta đi đâu thế?

Nguyệt nhi đáp:

– Đi gặp lão gia nhà ta.

Địch Thanh cả kinh, dừng bước:

– Gặp lão gia nhà cô?

Nguyệt nhi nhíu mày hỏi:

– Sao thế, chẳng lẽ ngươi cứ muốn lén lén lút lút với tiểu thư nhà ta cả đời sao?

– Không phải vậy, nhưng mà gặp ngay lúc này thì tôi chưa chuẩn bị chút gì cả.

– Đợi ngươi chuẩn bị ư? Có thể chuẩn bị ra chức Đại tướng quân, Tiết Độ Sứ không?

Địch Thanh cười khổ trả lời:

– Không thể.

Nguyệt nhi nguýt một cái rồi nói:

– Vậy không được, nếu ngươi không có cách gì chuẩn bị tốt hơn thì trước mắt chỉ có hai điều có thể thuyết phục lão gia nhà ta chấp nhận ngươi.

Địch Thanh khiêm tốn:

– Mời cô nương nói.

– Điều kiện đầu tiên là chân thành, ngươi nhất định phải làm cho lão gia nhà ta biết ngươi cực kì chân thành với tiểu thư nhà ta.

– Cái… chân thành… này tôi có!

Nguyệt nhi thấy bộ dạng lúng túng của Địch Thanh thì cười khúc khích, tiếp tục vừa đi về phía trước vừa nói:

– Có hay không, phải đến lúc đó mới biết được. Điều kiện thứ hai là ngươi phải làm cho lão gia nhìn thấy ngươi là người có bản lĩnh!

Địch Thanh âm thầm than thở, điều kiện của Nguyệt nhi đúng là không quá lắm. Thử hỏi lão gia nhà nào lại gã con gái cho người tầm thường không có chí tiến thủ chứ? Nhưng mình thì có tài năng gì chứ? Lòng rối như tơ, chàng thử dò hỏi:

– Vậy lão gia nhà cô có thích gì không?

Nguyệt nhi trả lời gọn gàng:

– Người làm ăn, đương nhiên thích tiền!

Hai người nói chuyện một lúc đã đi đến gần tiền đường. Nhìn từ xa xa, thấy trong nhà có ba người đang ngồi, trong đó có Vũ Thường. Nàng đang nhìn ra ngoài như mong chờ ai đó, thấy Địch Thanh và Nguyệt nhi đến liền nở nụ cười xinh đẹp, hai gò má đỏ bừng, đầu cúi xuống.

Địch Thanh từ xa trông thấy Vũ Thường nở nụ cười, tình cảm dâng lên trong lòng, thầm nghĩ lần này bất kể ra sao cũng không thể để Vũ Thường thất vọng.

Trong phòng khách trừ Vũ Thường ra, ở vị trí chủ nhà là một người lớn tuổi ngồi ngay ngắn, râu hoa râm, khuôn mặt đỏ như đồng, dáng vẻ khá uy nghiêm. Địch Thanh nghĩ rằng, người này chắc là phụ thân của Vũ Thường rồi, nhưng không giống Vũ Thường lắm, may mà cũng không giống.

Ngồi vị trí phía dưới lão là một người thanh niên, dưới mông giống như có đinh, ngồi không yên. Trên tay người thanh niên này đeo một chiếc nhẫn lục ngọc cực lớn, ăn mặc xa hoa cầu kì, mặc dù đang nói chuyện với lão giả, nhưng ánh mắt thỉnh thoảng lại liếc về phía Dương Vũ Thường. Lão giả phát hiện có khách đến, không khỏi kinh ngạc:

– Tiểu Nguyệt, có chuyện gì đấy?

Tiểu Nguyệt ấp úng đáp:

– Lão gia, có khách viếng thăm.

Nàng dẫu sao cũng là nha hoàn, mặc dù toàn tâm vì Vũ Thường nhưng cũng không dám làm Dương lão gia tức giận.

Dương lão gia tức giận không vui, lão đang tiếp khách mà sao Nguyệt nhi lại không biết lễ độ, dẫn người đến đây làm gì? Thấy Địch Thanh đã đến trước mặt, lại thoáng thấy hình xăm trên mặt Địch Thanh, Dương lão gia hơi giật mình, đứng dậy chắp tay hỏi:

– Vị quan quân này, không biết tới đây có việc gì không?

Vào lúc này, Địch Thanh đã định ra đối sách, nói thẳng ra:

– Tại hạ tìm Dương bá phụ.

Dương Vũ Thường vừa mừng vừa sợ, không nghĩ tới Địch Thanh lại thẳng thắn như thế. Dương lão gia nhíu mày, tâm tư xoay chuyển, trong lúc nhất thời không biết đối đáp ra sao! Địch Thanh chỉ hiền lành trước mặt Vũ Thường thôi, còn với người ngoài thì một chút nghiêm túc cũng không có, con ngươi khẽ đảo, định giải thích lý do:

– Dương bá phụ…

Dương lão gia ngắt lời:

– Lão hủ là Dương Niệm Ân, ngươi nể mặt ta thì gọi ta là lão trượng, bá phụ thì thật không dám nhận.

Vũ Thường cúi đầu không nói, khóe miệng thủy chung vẫn mang nụ cười như có như không. Người thanh niên đỏm dáng vẫn luôn coi Địch Thanh như không khí, nhưng khi thấy Địch Thanh dường như cũng làm ngơ với gã thì nhịn không được nói:

– Rốt cuộc ngươi là ai? Đừng có lôi kéo làm quen!

Địch Thanh quay đầu nhìn hắn hỏi:

– Ngươi là ai? Vì sao đến nhà Dương lão trượng, muốn trộm cắp sao?

Người đó phẫn nộ kêu lên:

– Ta cảnh cáo ngươi, ngươi nói chuyện lễ độ chút!

Địch Thanh vặn lại:

– Không lễ độ thì sao nào?

Người đó sững lại, rồi nhìn thấy trên mặt Địch Thanh có xăm chữ thì cười lạnh nói:

– Ta cần gì chấp nhặt thứ đồ như ngươi?

Gã thầm nghĩ: “Hảo hán không ăn thiệt thòi trước mắt, tiểu tử này là quân nhân cấp thấp, chỉ là một cái mạng rách, mình không cần phải liều mạng với hắn.”

Dương Niệm Ân vội hòa giải:

– Quan nhân, vị tiểu ca này là La Đức Chính, đến đây nói chút chuyện riêng với lão hủ, không phải là loại người trộm cắp.

La Đức Chính tự dưng cảm thấy yếu thế đi, cả giận:

– Dương bá phụ, hà tất gì phải nói lời vô nghĩa với hắn?

– Bá phụ thì không dám nhận, hay ngươi gọi là lão trượng đi.

Chàng tiếp lấy câu chuyện, ngược lại đã chiếm được tiện nghi của La Đức Chính.

Vũ Thường không kìm được, bật cười khúc khích.

La Đức Chính chợt đứng lên, vỗ bàn nói:

– Ngươi dám chiếm tiện nghi của ta?

Địch Thanh kinh ngạc nói:

– Đâu có đâu có. Ta thấy Dương lão trượng khiêm tốn nên mới thay người nói ra, chẳng lẽ ngươi không muốn gọi người là lão trượng, muốn gọi là huynh đài sao?

Dương Niệm Ân nhíu chặt mày, nói lảng đi:

– Đức Chính hiền chất, vừa rồi con có nói mang tới ít trà. Đâu? Cho lão hủ xem.

La Đức Chính thấy Dương Niệm Ân khách sáo với gã thì tâm tình bình tĩnh lại, lấy hộp gấm ra, hai tay đưa lên nói:

– Kính mời bá phụ đánh giá.

Dương Niệm Ân đưa tay nhận lấy, cười nói:

– Không biết đây là trà nơi nào?

Lão vốn là thương trà, chuyển chủ đề vì không muốn Địch Thanh và La Đức Chính xung đột nhau, chứ đối với trà thông thường, lão thật sự không để vào trong mắt.

La Đức Chính mỉm cười nói:

– Đây là trà Long Đoàn của Kiến Khê.

(trà Long Đoàn: một loại trà dùng để triều cống. được ép thành hình cầu, trên có vẽ hình rồng.)

Dương Niệm Ân giật mình, vội vàng mở hộp gấm ra, thấy chính giữa có để một bánh trà, màu sắc rực rỡ, trên có ký hiệu Kim Long đặc trưng của Kiến Khê, vui vẻ nói:

– Ai chà! Lễ vật này thật quý, rất quý!

Địch Thanh nhìn không ra bánh trà này quý giá ở chỗ nào, nhưng không muốn xấu mặt đành phải trầm mặc để giấu dốt. Mặc dù Địch Thanh muốn ẩn mình nhưng La Đức Chính thì lại không buông tha, chàng khinh khỉnh hỏi:

– Vị quan nhân này, ngươi có biết lễ vật quý trọng này ở đâu không?

Địch Thanh trả lời:

– Thường lắm cưng ơi.

Chàng vừa nói ra lời này, Dương Vũ Thường và Nguyệt nhi đều nhíu mày, Địch Thanh biết mình đã nói sai, con ngươi đảo vòng vòng, nghĩ cách ứng đối.

La Đức Chính cười ha ha nói:

– Thường lắm? Ha ha, nếu ngươi có thể đưa ra được lễ vật nào quý trọng hơn nó, ta liền..ta liền…

– Ngươi liền dập đầu gọi ta là gia gia?

Địch Thanh khiêu khích.

La Đức Chính tức giận đỏ mặt tía tai, Dương Niệm Ân vội giải vây:

– Quan nhân nói đùa rồi, lễ này không quá quý trọng, nhưng cũng không phải tầm thường. Phải biết rằng Kiến Khê – Phúc Kiến là cái nôi sản xuất trà trong cả nước, mà trà Long Đoàn lại là cực phẩm trong các loại trà ở Kiến Khê, một cân trà cũng chỉ có thể làm ra hai mươi bánh trà Long Đoàn, trị giá tới hai lượng vàng đó. Huống chi, đây là trà dùng trong cung, có tiền cũng không mua được.

Địch Thanh ra vẻ xem thường nói:

– Giá hai mươi viên trà chỉ có hai lượng vàng? Giá cũng tàm tạm thôi.

Chàng đương nhiên biết cái giá này không phải tàm tạm, mà là đắt chết người, lương bổng một năm của chàng còn chưa được hai lượng vàng. Nhưng lúc này, dĩ nhiên Địch Thanh không thể xuống nước.

La Đức Chính cười giận dữ:

– Hừm! Thật huyênh hoang khoác lác, không biết trên người có được hai lượng bạc không nữa?

Địch Thanh cười nói:

– Không gạt ngươi chứ, tuy tại hạ bần hàn nhưng vung tay một cái cũng mua được mấy trăm viên…Chừng này có là gì? À, Long Đoàn đúng không? Mua mấy trăm viên Long Đoàn cũng không là vấn đề.

La Đức Chính tức giận:

– Nếu ngươi có thể mua mấy trăm viên…ta liền…ta liền…

– Ngươi liền dập đầu gọi ta là gia gia?

Địch Thanh hỏi.

La Đức Chính tức muốn điên lên, vỗ bàn nói:

– Được, chỉ cần ngươi có thể ngay tại đây đưa ra năm mươi lượng vàng, ta liền dập đầu gọi ngươi là gia gia, nhưng nếu ngươi không làm được thì sao nào?

Hắn thấy Địch Thanh là tên cấm quân quèn, quần áo rách nát, tuyệt đối không tin Địch Thanh có vàng trong người.

Địch Thanh thầm buồn cười, giả bộ lưỡng lự:

– Nói đùa thôi mà, cần gì cho là thật chứ?

La Đức Chính thấy Địch Thanh chùn lại, càng có thêm lòng tin, quát:

– Ai mà rỗi hơi đùa với ngươi? Nếu ngươi không có năm mươi lượng vàng thì đừng có khoác lác, cút ra ngoài đi!

Địch Thanh ra vẻ giận dữ hỏi:

– Nếu ta có vàng thì sao nào?

– Ngươi không có thì sao?

– Ta có thì sao?

Dương Niệm Ân thấy bộ dáng tranh hơn thua kiểu “Anh một câu, ta một câu” của hai người, sợ đấu khẩu đến ngày mai cũng không có kết quả::

– Hai vị đừng cãi nhau nữa, người tới là khách, hòa khí sinh tài. Tuy lão hủ không có trà Long Đoàn, nhưng vừa lúc có chút trà Tảo Xuân của Giang Nam, chờ lão hủ pha trà giảm nhiệt cho hai vị.

La Đức Chính nói:

– Dương bá phụ, không phải ta không nể mặt người, có điều người này lớn lối quá mức, nếu ta không dạy dỗ hắn một trận, hắn còn không biết trời cao đất rộng là gì. Hôm nay ta quyết định đánh cược một trận.

Địch Thanh bỗng đứng lên, quát:

– Được, cược thì cược, nếu ta lấy ra năm mươi lượng vàng ngay tại đây. Ngươi phải lập tức gọi ta là gia gia, nếu ta không lấy ra được, ta liền rời khỏi nơi này, sau này sẽ không bao giờ đến đây nữa.

Sắc mặt Vũ Thường khẽ biến, nhỏ giọng:

– Đừng có làm việc theo cảm tính.

Địch Thanh đưa lưng về phía Vũ Thường, bàn tay vẫy vẫy. Thấy Địch Thanh có vẻ đã có dự tính trước, nàng cũng không hiểu cho lắm, bởi vì nàng rất rõ Địch Thanh, biết Địch Thanh không phải là người có tiền. La Đức Chính thấy Địch Thanh trúng kế, cười ha ha nói:

– Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy! Hôm nay, xin bá phụ làm chứng cho.

Địch Thanh nói:

– Tuyệt không đổi ý?

– Tất nhiên!

Địch Thanh cười hì hì, đưa tay móc hộp sách mà Thánh công tử đưa, quăng lên mặt bàn cái rầm:

– Vậy ngươi mau mau gọi ta là gia gia đi.

Phịch một tiếng, nắp hộp sách bung ra, mấy miếng vàng lá sáng choang xuất hiện, đập vào mắt mọi người.

La Đức Chính sững sờ, thốt không nên lời.

Chương 17 : Huynh Đệ (p4)

Sau khi Quách Tuân về kinh thành được bốn ngày thì Địch Vân cũng vừa tới Quách phủ, tuy nhiên Địch Thanh vẫn chưa tỉnh lại.

Quách Tuân thấy Địch Vân đến, chỉ nói một câu:

– Địch Thanh vì cứu ta mà bị thương. Ta có lỗi với hắn.

Sau đó Quách Tuân đưa Địch Vân tới trước giường Địch Thanh.

Địch Vân đã nghe đám cấm quân kể hết sự tình từ đầu đến cuối nên y còn cảm thấy Quách Tuân tự trách mình quá nhiều thì nói:

– Quách đại nhân! Địch Thanh vì cứu người mà bị thương, cho dù chết …

Y vốn định nói mấy câu khách sáo nhưng khi thấy Địch Thanh đang nằm trên giường, hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt tiều tụy thì giọng nói đã trở nên nghẹn ngào. Y không ngờ đệ đệ mới rời khỏi Phần Châu đã bị trọng thương. Nếu thực sự Địch Thanh không qua khỏi thì y làm sao dám nhìn mặt cha mẹ dưới suối vàng đây?

Vương Duy Nhất đang châm cứu cho Địch Thanh, thấy Địch Vân đến đây thì uể oải đứng dậy nói:

– Vị này… chính là đại ca của Địch Thanh sao?

Thấy Quách Tuân gật đầu, Vương Duy Nhất nói tiếp:

– Bây giờ người cứu được Địch Thanh chỉ có mình cậu thôi.

Địch Vân vội hỏi:

– Cứu làm sao?

– Nói chuyện với hắn. – Vương Duy Nhất nói một cách bất đắc dĩ:

– Ta liên tục kích thích tủy hải để kích thích sức sống của hắn, tiếc là không hiệu quả lắm. Cơ thể con người vốn rất kỳ diệu, tuy ta có nhiều nghiên cứu về kinh lạc và huyệt đạo nhưng hiểu biết đối với tủy hải vẫn còn rất sơ sài. Nhưng ta biết rằng lời nói của người thân có thể đánh thức thần trí của hắn, cậu cứ thử một lần xem sao.

Địch Vân gật đầu, khập khiễng đi tới trước giường, cầm tay Địch Thanh, trong mắt rưng rưng nhưng vẫn cố gắng mỉm cười nói:

– Đệ đệ! Đại ca tới thăm đệ đây. Huynh không ngờ có thể gặp lại đệ nhanh như vậy. Huynh đã biết tất cả mọi chuyện rồi, biết đệ tiêu diệt Tăng Trưởng Thiên Vương, trừ hại cho dân. Đại ca rất tự hào vì đệ. Huynh đến đây vội quá nên tẩu của đệ không thể tới cùng được, nhưng nàng có nhờ ta nói với đệ một câu là cảm ơn đệ trước đây đã cứu nàng. Nàng nói, đệ từ trước giờ vốn ở nông thôn. Lần này đến kinh thành, mong đệ chăm sóc tự bản thân cho thật tốt. Chúng ta không thể ở bên cạnh đệ, đệ hãy tự bảo trọng…

Nói tới đây, Địch Vân đã không kìm nổi xúc động. Nước mắt lã chã rơi xuống khuôn mặt tái nhợt của Địch Thanh, nhưng vẫn không có dấu hiệu nào chứng tỏ Địch Thanh tỉnh lại. Tim Địch Vân như bị dao cắt, song vẫn cố gắng cười nói:

– Lúc đó ta còn cười tẩu của đệ, bảo “Đệ đệ đã trưởng thành, chẳng những có thể chăm sóc bản thân mà còn có thể lo cho hai chúng ta nữa.” Nếu lúc trước không có đệ, ta và tẩu tẩu của đệ sao có thể ở cùng nhau?

Tuy Địch Vân nói toàn những chuyện bình thường, nhưng giọng nói run run, từng từ chan chứa tình cảm sâu đậm.

Sống mũi Quách Tuân cay xè, ngẩng đầu nhìn lên nóc nhà. Lại nghe Địch Vân nói tiếp:

– Đệ đệ! Đệ phải nhanh chóng tỉnh lại. Trên đời này, đệ là người thân thiết nhất của huynh. Đại ca đi lại bất tiện, vẫn cần có đệ quan tâm. Đệ không thể bỏ mặc huynh được. Đệ đã hứa với mẹ là phải nghe lời huynh, lần này đệ nhất định phải nghe.

Trong khoảnh khắc này, Quách Tuân không thể kìm lòng được xoay người đi ra khỏi phòng. Gã ngơ ngẩn ngồi trong đình viện với vẻ mặt thẫn thờ, trong mắt tràn ngập sự áy náy.

Quách Tuân ngồi từ bình mình cho đến khi hoàng hôn, rồi lại từ hoàng hôn cho đến bình minh, từ lúc nắng sớm còn lạnh lẽo đến khi nắng chiều vàng rực. Mấy lần Quách Quỳ đến, thấy vẻ mặt đại ca uể oải nên không dám nhiều lời mà chỉ lén lút đặt đồ ăn ở bên cạnh.

Thoáng cái đã qua hai ngày, Quách Tuân vẫn chưa được động tới một chút thức ăn bên cạnh. Người đàn ông cứng rắn đó cứ ngồi như vậy, chẳng ai biết gã đang nghĩ gì.

Không chỉ có Quách Tuân không ăn không uống mà cả Địch Vân cũng vậy. Địch Vân đã nói liên tục hai ngày, khuôn mặt tiều tụy, cổ họng khàn khàn nhưng vẫn cố gắng nói tiếp. Hắn cho rằng chỉ có nói tiếp thì đệ đệ mới có cơ hội sống lại. Mỗi một ngày trôi qua, Địch Thanh lại càng tiến gần đến cái chết, Địch Vân làm sao có thể lãng phí thời gian để ăn uống cho được?

Tới ngày thứ bảy, Vương Duy Nhất uể oải chậm rãi từ trong phòng mình đi ra. Trông thấy Quách Tuân ngồi bên bàn như pho tượng thì than nhẹ một tiếng. Quách Tuân bị tiếng than làm cho giật mình, trừng hai con mắt chằng chịt tơ máu nhìn Vương Duy Nhất, thấy gã không có nửa phần vui vẻ thì đã hiểu rõ tất cả. Vương Duy Nhất cảm thấy lo lắng, bèn đi tới nói:

– Quách đại nhân! Ta thấy hổ thẹn với sự tin tưởng của ngài…

Quách Tuân khoát tay nói:

– Số mạng hắn đã vậy, biết làm sao được?

Tuy nói như vậy, nhưng tâm tình gã kích động, lấy tay che miệng ho kịch liệt, từ khe ngón tay máu tươi thấm cả ra ngoài.

Vương Duy Nhất kinh hãi, nói:

– Quách đại nhân! Bệnh của ngài cũng cần phải nghỉ ngơi vài ngày.

Quách Tuân thở dài nói:

– Không vội.

Gã chậm rãi đứng dậy định đi đến gian phòng của Địch Thanh, nhưng rốt cuộc vẫn không dám. Cả đời gã chinh chiến vô số, vào sinh ra tử bao nhiêu lần nhưng cũng chưa bao giờ thấy sợ sệt như lúc này.

Đúng lúc này, ngoài cửa có một người đi vào và lên tiếng:

– Quách huynh! Huynh … huynh làm sao vậy?

Khuôn mặt người đó đầy vẻ phong trần nhưng đôi mắt vẫn hết sức sắc bén. Người đó đúng là bộ đầu kinh thành Diệp Tri Thu.

Quách Tuân cố gắng cười nói:

– Không có gì. Ngươi … có kết quả chưa?

Diệp Tri Thu than thở:

– Mấy tên thuộc hạ của huynh vẫn bặt vô âm tín. Đệ đi về phía tây Bạch Bích lĩnh thì phát hiện ở đó có một cái hố sâu, cây cối xung quanh bị cháy xém dường như là do quả cầu lửa rơi xuống gây nên.

– Hố sâu? – Quách Tuân thuận miệng thốt ra một câu.

Diệp Tri Thu nói:

– Đúng vậy! Cái hố đó rất sâu.

Quách Tuân thấy ánh mắt hắn có vẻ hoảng sợ thì cảm thấy hơi ngạc nhiên, thầm nghĩ Diệp Tri Thu đã từng thấy nhiều việc kì quái mà sao lại sợ hãi một cái hố sâu như vậy? Diệp Tri Thu cười khổ nói:

– Đệ dùng hết khả năng vẫn không đo được hết cái hố. Sau đó đành phải ném một tảng đá xuống phía dưới, đợi một lúc lâu mà vẫn không có bất cứ âm thanh nào.

Quách Tuân chỉ lo lắng đến sự sống chết của Địch Thanh, thuận miệng nói:

– Tạo hóa thần kỳ, ngay cả ta cũng chẳng thể giải thích hết được…

Diệp Tri Thu thấy Quách Tuân hoàn toàn không có hứng thú với chuyện này, chỉ biết cười khổ, không muốn nói về chuyện quả cầu lửa kì quái với Quách Tuân nữa. Thấy hai tròng mắt Quách Tuân đỏ sậm, hai má ửng hồng, rõ ràng là bệnh tình không nhẹ, Diệp Tri Thu lo lắng nói:

– Quách huynh! Huynh…

Vốn định khuyên gã giữ gìn sức khỏe, y chợt nhớ ra, bèn hỏi:

– Địch Thanh chưa tỉnh lại sao?

Y có thể nhận ra giữa Quách Tuân và Địch Thanh dường như có mối quan hệ gì đó.

Quách Tuân lắc đầu. Diệp Tri Thu thấy Vương Duy Nhất đã ở đây, thầm nghĩ gã cũng chịu bó tay thì mình càng không có cách gì hơn nữa. Vốn là một người thẳng thắn, thấy thế bèn nói:

– Đã như vậy thì không làm phiền Quách huynh nữa. Chỉ mong Địch Thanh sớm tỉnh lại.

Diệp Tri Thu xoay người định đi thì chợt ngừng bước, nói:

– À, Quách huynh này! Đệ đã xem xét qua thi thể của Tam Đại Thiên Vương và đã cho vẽ lại chân dung của bọn chúng rồi ngầm ra lệnh cho bộ khoái các nơi lưu ý, nhưng đến bây giờ cũng chưa có manh mối gì về thân phận của ba người này. Lần trước lời nói của phật Di Lặc mặc dù không rõ nghĩa, nhưng đệ cũng vẫn nhớ được âm điệu. Cho nên hôm qua khi về tới kinh thành, đệ đã đi tìm mấy vị tinh thông ngôn ngữ các nơi hỏi thăm, cuối cùng đã xác định được câu nói kia!

Thấy Quách Tuân hoàn toàn không có hứng thú đối với vấn đề này, Diệp Tri Thu lắc đầu rồi nói tiếp:

– Đó là ngôn ngữ của dân tộc Thổ Phiên. Điều này cho thấy Di Lặc phật chủ có khả năng liên quan với người Thổ Phiên. Ta dự định đi Thổ Phiên một chuyến. Huynh … hãy bảo trọng.

Hắn nói xong ôm quyền rời đi. Quách Tuân cũng ôm quyền nhưng chẳng có sức mà buông xuống, lẩm bẩm nói:

– Thổ Phiên? Phật Di Lặc, Thổ Phiên? Bọn chúng không ở Thổ Phiên mà đến vùng Trung Nguyên này để làm gì?

Chương 18 : Huynh Đệ (p5)

Quách Quỳ bưng thức ăn nóng đến, lên tiếng:

– Đại ca! Huynh ăn chút gì đi?

Quách Tuân nhìn thấy cơm nước cũng chẳng có lòng dạ nào mà nuốt.

– Tiểu Quỳ! Đệ giúp huynh đi xem xem Địch Thanh ra sao rồi.

Gã không có can đảm vào phòng hỏi thăm sức khoẻ Địch Thanh.

Quách Quỳ liền bưng thức ăn đi vào phòng, vốn định khuyên bảo Địch Vân vài câu nhưng thấy được đôi mắt Địch Vân đầy tuyệt vọng thì tất cả những lời muốn nói đều nuốt vào trong.

Địch Vân vẫn chưa phát hiện Quách Quỳ đến đây, toàn bộ tâm tư và tinh thần của hắn đều tập trung vào đệ đệ của mình.

Đã nhiều ngày rồi, Địch Thanh chưa tỉnh lại, sắc mặt càng thêm tái nhợt, dường như đang hấp hối.

Địch Vân nắm chặt bàn tay đệ đệ, như đang nắm chút hy vọng sống mong manh. Hắn đã nói liên tục hai ngày hai đêm không nghỉ. Hai tròng mắt hằn đầy tơ máu, đôi môi của hắn sớm đã nứt nẻ bật máu, cổ họng cũng khô khốc, hơi động một tý thôi là đau đớn giống như bị đao cắt. Nhưng con đau đó có đáng gì so với nỗi đau từ con tim nằm trong lồng ngực hắn.

– Đệ đệ! Đừng ngủ nữa, đại ca sẽ rất tức giận đấy…

Nói xong câu này, Địch Vân kìm được để cho nước mắt tuôn như mưa, nức nở nói:

– Đệ đệ! Đệ còn nhớ không? Mỗi lần đệ phạm lỗi đều không dám nói cho đại ca biết. Đệ không sợ huynh đánh vào đít mà chỉ sợ huynh thất vọng. Mỗi lần đại ca nói sẽ tức giận, đệ đều hiểu ra mà sửa sai. Ở trong lòng đại ca, đệ đáng giá ngàn vàng không gì có thể đánh đổi được. Khi huynh nghe được lời đệ nói với Ngưu Tráng rằng ‘Ở trong lòng của đệ, đại ca cũng là một vị đại ca vạn vàng khó cầu.’ Đệ có biết, lúc huynh nghe được câu nói đó thì sung sướng đến thế nào không?

Mấy giọt nước mắt rơi tí tách trên mặt Địch Thanh, Địch Vân lại nói:

– Đệ đệ! Đệ không được ngủ. Lần này đại ca thực sự rất tức giận. Không … sau này đại ca sẽ không bao giờ … nổi giận với đệ nữa. Chỉ cần đệ tỉnh lại thôi, có được không?

Năm ngón tay siết chặt lấy tay Địch Thanh, Địch Vân đang cười giống như khóc.

– Đệ đệ! Đệ còn nhớ lúc hấp hối mẹ đã nói gì không? Người nói là muốn huynh đệ chúng ta sống nương tựa lẫn nhau, chăm sóc cho nhau. Người nói: “Thế gian này gặp được nhau đã là duyên phận, là anh em lại càng có duyên. Duyên phận phải được quý trọng, thù hận chẳng qua chỉ là chốc lát. Người cũng nói đã không còn hận kẻ trước kia đã đánh phụ thân bị thương, không mong huynh đệ chúng ta báo thù rửa hận, chỉ mong hai chúng ta sống vui vẻ. Dù thế nào đi nữa được sống chính là điều tốt nhất!” Khi đó huynh còn trẻ không hiểu được gì, nhưng bây giờ huynh đã hiểu tấm lòng của mẫu thân. Người chẳng mong gì cả, không cần chúng ta làm tể tướng hay đỗ trạng nguyên, người chỉ mong chúng ta sống vui vẻ hạnh phúc thì đã mãn nguyện lắm rồi. Đệ đệ, huynh chỉ mong đệ đừng chết. Đại ca không cần gì hơn nữa.

Nước mắt gã giàn giụa, thấy Địch Thanh vẫn ngủ say không tỉnh thì không kiềm chế được nỗi đau trong lòng, đột nhiên nhào tới úp mặt vào ngực Địch Thanh, cố sức lay lay hắn mà nói:

– Đệ đệ! Huynh van đệ. Đệ đừng bỏ đại ca lại. Cầu xin đệ, đừng bỏ đại ca một mình!

Địch Vân vùi đầu vào ngực Địch Thanh, gào khóc. Quách Tuân nghe được tiếng khóc trong phòng vọng ra, nghĩ rằng Địch Thanh đã chết thì vô cùng đau đớn mà phun ra một một ngụm máu tươi lớn.

Chẳng biết đã khóc được bao lâu, đột nhiên Địch Vân cảm giác có người đang xoa đầu mình thì cứ tưởng rằng Quách Quỳ đang an ủi liền lên tiếng đầy đau thương:

– Quách tiểu đệ…

Không ngờ, y lại nghe Quách Quỳ thốt lên kinh ngạc:

– Địch Thanh hắn…

Địch Vân ngẩng đầu nhìn đệ đệ, chỉ thấy Địch Thanh đang mở mắt nhìn mình, một tay vừa mới từ đỉnh đầu gã hạ xuống.

Địch Vân thấy đệ đệ tỉnh lại, vừa bi thương vừa mừng rỡ mà ngây người.

Trong mắt Địch Thanh tràn đầy nước mắt, thì thào:

– Đại ca! Đệ sẽ không bỏ đại ca đâu, không bao giờ!

Giọng nói của hắn tuy rất yếu ớt nhưng rất chân thật.

Địch Vân vui mừng thiếu chút nữa ngất đi, hai cánh môi hé ra nhưng một chữ cũng nói không nên lời. Gã đã nói ba ngày hai đêm, tới lúc này mới đã cảm thấy đôi môi đau nhức, nhưng sự đau đớn đó làm sao có thể so với niềm vui trong lòng?

Quách Quỳ chính mắt nhìn thấy nước mắt Địch Thanh theo khóe mắt chảy xuống, tận mắt nhìn thấy Địch Thanh mở mắt vươn tay ra xoa đầu Địch Vân thì chỉ kịp kêu lên một tiếng sợ hãi mà đứng yên. Tới khi nghe Địch Thanh nói mấy câu, nó mới cảm thấy vui mừng vô hạn, liền xoay người xông ra ngoài kêu to:

– Đại ca, Địch Thanh tỉnh rồi, Địch Thanh tỉnh rồi!

Vương Duy Nhất phấn chấn, bước nhanh vào trong gian phòng. Vết máu nơi khóe miệng Quách Tuân vẫn còn chưa khô, nghe nói như thế thì chưa dám tin, run giọng nói:

– Thật sao?

Quách Quỳ ôm cổ Quách Tuân, liên tục gật đầu nói:

– Thật mà! Hắn mở mắt ra rồi, hắn đã nói được.

Cậu bé vô cùng hưng phấn, ôm chặt cổ đại ca. Có lẽ chỉ có hôm nay nó mới thực sự cảm thấy tình huynh đệ sâu đậm đến thế nào.

Cuối cùng, Vương Duy Nhất bước ra cười với Quách Tuân, nói:

– Địch Thanh sống lại rồi.

Lúc này, Quách Tuân mới chịu tin, thân hình lảo đảo quỳ xuống đất. Quách Quỳ hốt hoảng kêu lên:

– Đại ca! Huynh làm sao vậy?

Quách Tuân ngẩng đầu tạ ơn ông trời, rồi dập đầu lạy mặt đất. Khuôn mặt gã lấm lem đất cát, vui sướng đến phát khóc.

Chương 19 : Kinh Diễm (1)

Xuân đi xuân đến, mai rụng tuyết tàn.

Thời gian như nước tẩy sạch những dấu vết còn sót lại của tháng năm. Tuy trận đánh ở thung lũng Phi Long trời long đất lở, quỷ dị khó lường, nhưng thời gian cũng đã qua lâu, ngoại trừ những người trong cuộc ra thì đã không còn mấy ai nhớ được tình cảnh thảm liệt và quỷ dị lúc đó.

Nhưng chỉ cần là người đã từng trải qua thì cả đời này sẽ không quên được hết thảy những việc đã xảy ra lúc ấy!

Cuối xuân năm nay là mùa cỏ cây sinh sôi, đàn chim oanh bay hót, trong và ngoài Anh Vũ lâu ở phủ Khai Phong ồn ào náo nhiệt không ngớt, cấm quân qua lại nhộn nhịp như những chú kiến.

Bởi mấy ngày này là lúc tổ chức Ma Khám cấm quân rất lớn, cho nên cấm quân kinh thành đến tham gia sát hạch rất đông.

Đại Tống trọng văn khinh võ, khoa cử thường xuyên được tổ chức nhưng nếu không phải thời kì đặc biệt thì rất ít khi tổ chức võ cử. Quân nhân nếu không có lai lịch xuất thân, trong triều không có người nói giúp, để được từ sương quân được bổ sung vào cấm quân, con đường thăng chức duy nhất chính là tham gia Ma Khám. Người có thể đi vào trong Anh Vũ lâu thi diễn võ nghệ, chức vị thấp nhất cũng phải là Phó Đô Đầu trở lên, mà phần lớn quan quân cấp thấp nếu muốn thăng chức, cũng chỉ có thể tiến hành sát hạch ở Bát Đại doanh bên ngoài Anh Vũ lâu.

Trong Kiêu Võ doanh thuộc Bát Đại doanh, có quan giám thị hô to:

– Vương Khuê thi tiễn.

Một người ra khỏi hàng. Mọi người thấy người này mặt đen như than, tuổi tác cũng không lớn lắm, vừa bước lên đứng ở trên võ trường thì cả người đã tỏa ra một luồng khí tức lẫm liệt dũng mãnh. Lúc này có người đưa cho gã một chiếc cung cứng, hai tay Vương Khuê dùng sức đã kéo căng cung cứng khiến cho mọi người phấn khích ủng hộ không ngớt.

Đám cấm quân chỉ trỏ, một người nói:

– Nếu lần này Vương Khuê vượt qua được khảo hạch thì sẽ trở thành Phó Đô Đầu rồi. Sau này chúng ta sẽ không còn nhìn thấy hắn ở đây nữa.

– Đương nhiên rồi, ngươi cho là ai cũng giống như ngươi sao? Nhìn ngươi xem, mấy năm nay chẳng có tiến bộ một tí gì, chín năm qua chưa vượt qua được một cuộc khảo hạch nào, đến bây giờ cũng chỉ là một Thừa Cục mà thôi. Người nhà Vương Khuê không có ai ở trong triều mà hắn lại có được chí khí như vậy, mỗi một cuộc khảo hạch đều vượt qua, một cơ hội nhỏ cũng không bỏ lỡ, từ một quân nhân tầm thường đã tiến lên được Quân Đầu, thoắt cái lại sắp trở thành Phó Đô Đầu rồi, thật đúng là một hán tử.

Người bị chất vấn kia bất mãn nói:

– Vậy thì sao chứ? Cũng chỉ là một Đô Đầu thôi, bên trên còn có Đô Ngu Hầu và Chỉ Huy Sứ. Chỉ Huy Sứ ở trong kinh thành thì được coi là cái gì? Nếu như ngươi không vào được Tam Ban thì cả đời này cũng chỉ là quân nhân thấp kém. Chỉ có gia nhập vào Tam Ban sứ thần thì mới thật sự có triển vọng. Dù Vương Khuê có dũng mãnh đi chăng nữa, nếu muốn tiến nhập vào Tam Ban sứ thần thì sợ rằng râu cũng đã bạc trắng rồi? Nỗ lực như thế để ‘chui’ vào Tam Ban thì cũng đã sắp về trời rồi, tội gì chứ?

Người lúc trước thở dài, lại nói tiếp:

– Nói thì nói thế, nhưng mà được thăng chức bao giờ cũng là chuyện tốt, giống như làm Tương Ngu Hầu dù sao cũng tốt hơn so với Thừa Cục.

Nói xong gã cười đắc ý. Vốn dĩ gã chính là quan cấp bậc Tương Ngu Hầu, cao hơn Thừa Cục một bậc, nói vậy chính là để châm chọc đối phương.

Người kia bị châm chọc đỏ mặt, phẫn nộ nói:

– Lão tử là Thừa Cục thì sao nào? Dù sao lão tử cũng dựa vào năng lực của bản thân mà thăng chức, chứ không giống với một số người, chỉ biết khoác lác, bưng bít mà vượt qua kiểm tra. Đúng là năm nào lão tử cũng dậm chân tại chỗ, nhưng ngược lại có những người năm nào cũng thụt lui. Tuy nhiên người ta vẫn là Thập Tương, còn cao hơn môt bậc so với Tương Ngu Hầu ngươi đó.

Người lúc trước cười nói:

– Người ngươi muốn nói là Địch Thanh?

– Không phải sao, tên khoác lác từ trên trời rơi xuống kia không gì làm không được, nghe nói giết một tên Tăng Trưởng Thiên Vương gì đó. Vốn tưởng rằng Quách Tuân ở trong cấm quân cũng là một người không đến nỗi nào, không ngờ rốt cuộc cũng chỉ là hạng người dùng người theo cảm tính. Địch Thanh này vốn ngay cả sương quân cũng không được xếp vào, thế mà Quách Tuân lại xin công cho Địch Thanh, để hắn vào thẳng cấm quân, hơn nữa còn một bước lên làm Thập Tương… Nhưng tên Địch Thanh này bản lĩnh cái rắm gì cũng không có, thật là khiến cho người ta tức chết mà.

Thừa Cục kia căm giận nói.

Tương Ngu Hầu kia nói:

– Ngươi tức giận là bởi vì Quách Tuân không phải là người thân thích của ngươi sao? Hắc hắc, nói vậy Tăng Trưởng Thiên Vương kia chỉ là Bồ Tát làm từ đất sét, nên mới có thể để cho hắn ta một chiêu thành công nhỉ?

Hai gã đều cười hắc hắc.

Lúc này, trong doanh truyền đến một tràng hò reo ủng hộ, thì ra Vương Khuê đã bắt đầu tiến tới khảo hạch cưỡi ngựa bắn cung, gã phi thân lên ngựa, tay kéo trường cung, bắn một tên trúng hồng tâm, khiến cho mọi người trầm trồ khen ngợi ầm ầm.

– Đây mới là bản lĩnh thật sự!

Tương Ngu Hầu khen ngợi.

– Đương nhiên rồi, nào có như tên Địch Thanh kia, thực là làm mất mặt đồng đội.

Thừa Cục tiếp lời.

Lúc này quan giám thị xướng:

– Vương Khuê loại tốt, Địch Thanh thi tiễn.

Hai gã Thừa Cục và Tương Ngu Hầu nhìn quanh bốn phía, cùng nói:

– Không biết hôm nay hắn còn mặt mũi mà đi ra ngoài không?

Đang ngó nghiêng một hồi thì bỗng nghe có tiếng người nói từ phía sau:

– Tránh đường.

Hai người quay đầu lại nhìn, liền lộ vẻ xấu hổ, cuống quýt tránh sang một bên, hóa ra người lên tiếng chính là Địch Thanh, vừa nãy hắn đứng ở sau bọn họ.

Thời gian đã qua vài năm, Địch Thanh đã cao lên nhiều nhưng cũng gầy đi nhiều. Trên cái trán hắn có một vết sẹo nhỏ giống như nốt ruồi đỏ, bên má trái có xăm hai chữ “Kiêu Vũ”, râu dưới cằm mọc lởm chởm, dung mạo rất tiều tụy.

Thấy hai người tránh ra, Địch Thanh chậm rãi đi tới phía trước quan giám thị, đưa lệnh bài ở thắt lưng ra. Quan giám thị kiểm tra tỉ mỉ, xác nhận là thật, liền gật đầu nói:

– Địch Thanh thi tiễn.

Có người đưa cung tên tới, Địch Thanh chậm rãi nhận lấy, nhìn trường cung, vẻ mặt phức tạp, tay khẽ run rẩy.

Quan quân cấp bậc thấp muốn thăng chức, cần phải thi bốn loại kĩ thuật là bộ bắn, cưỡi ngựa bắn, võ nghệ và bắn nỏ. Nếu Địch Thanh muốn từ Thập Tương thăng lên làm Quân Đầu, nhất định phải bộ bắn cung sáu đấu lực, bắn nỏ một tạ bảy đấu lực, cưỡi ngựa bắn ba mũi tên trúng đích, thi diễn võ nghệ, lúc này mới do quan giám thị xét duyệt, quyết định xem có được thăng chức hay không.

Bộ bắn cung sáu đấu lực đối với Địch Thanh lúc trước mà nói, không khó chút nào. Mặc dù hắn võ nghệ không cao, nhưng ngày ngày đi tới cửa hàng lò rèn giúp đập sắt, cơ bắp rất khỏe, trước đây dù cho Quách Tuân bất ngờ ra tay cũng không tóm được tay hắn. Tuy nhiên, hiện giờ kéo cung sáu đấu lực đối hắn mà nói là vấn đề vô cùng khó khăn.

– Địch Thanh thi tiễn!

Quan giám thị thấy Địch Thanh còn chưa có kéo cung , nên không kiên nhẫn được nữa. Mọi người thấy thế, xì xào nổi lên, có người kêu lên:

– Không được thì trở về ôm con đi, đừng làm lãng phí thời gian của mọi người. Phía sau còn có người chờ đó!

Địch Thanh âm thầm cắn răng, hét lớn một tiếng, hai tay dùng sức, chỉ nghe “Răng rắc” một tiếng, hai cánh trường cung đã bị hắn kéo gãy làm đôi. Mọi người cảm thấy kính nể, mặt mang vẻ sợ hãi. Nhưng sau đó Địch Thanh lảo đảo, mềm nhũn ngã xuống đất. Hai tay nắm chặt lại, móng tay cắm vào thịt, vẻ mặt rất đau đớn.

Mọi người đều xôn xao, không biết chuyện gì đã xảy ra. Thừa Cục than thở:

– Kéo cung lại có thể làm cho mình ngất xỉu, đây đúng là chuyện chưa bao giờ xảy ra.

– Nếu ngươi không nói, không ai bảo ngươi câm đâu.

Một người lạnh lùng nói.

Thừa Cục vừa quay đầu lại nhìn, thấy phía sau có một người mũi to như mũi sư tử, để ria ngắn, dung mạo rất có uy thế. Thừa Cục cuống quít thi lễ nói:

– Chỉ Huy Sứ, sao người lại đến đây?

Người này không đếm xỉa tới Thừa Cục, đi tới bên người Địch Thanh, gật đầu với quan giám thị rồi tự mình cõng Địch Thanh ra khỏi đại doanh.

Tương Ngu Hầu thấy người có lỗ mũi sư tử đã đi xa, không nhịn được hỏi:

– Người đó là ai vậy, cuồng ngạo ghê nhỉ?

Thừa Cục lau mồ hôi lạnh, nói:

– Người này tên là Vương Tín, chính là Chỉ Huy Sứ của Thần Vệ quân, cũng là bằng hữu của Quách Tuân. Ngươi biết Chỉ Huy Sứ không? So với Tương Ngu Hầu ngươi thì không thể sánh nổi.

Tương Ngu Hầu hít một hơi khí lạnh, chỉ có thể lắc đầu nói:

– Tên Địch Thanh này tốt số thật, có quan to như Quách Tuân và Vương Tín chiếu cố. Haizz… Nếu như ngươi và ta có thể được bọn họ chiếu cố thì nói không chừng đã sớm trở thành Đô Đầu rồi.

Trong khi hai người đang than thở thì Vương Tín đã đặt Địch Thanh nằm dưới bóng râm ở bên ngoài quân doanh.

Địch Thanh tỉnh lại, nhìn thấy Vương Tín thì gắng gượng đứng dậy nói:

– Vương đại nhân, là ngài cõng ta ra đây sao?

Vương Tín nói:

– Nếu như không thể, cần gì phải miễn cưỡng chứ?

Địch Thanh nở một nụ cười chua chát, nói:

– Ta là người lỗ mãng, không suy xét được nhiều.

Vương Tín nhìn hắn một lúc lâu, mới nói:

– Ta còn có việc, đi trước một bước.

Y xoay người rời đi, đợi đến khi Địch Thanh không còn thấy mình nữa, lúc này mới lắc đầu, lẩm bẩm nói:

– Haiz … đáng tiếc cho một anh hùng.

Địch Thanh ngồi trở lại dưới tán cây, vẫn còn cảm thấy trong đầu nổ ầm ầm, đau đớn mơ hồ, ngẩng đầu nhìn cành liễu lả lướt, mưa bay lất phất, thần sắc ảm đạm, lẩm bẩm:

– Lẽ nào Địch Thanh ta cả đời này thật sự là kẻ vô tích sự ?

Chương 20 : Kinh diễm (2)

Thì ra Địch Thanh bị Đa Văn Thiên Vương làm tổn thương não bộ, sau khi tỉnh lại đến giờ vẫn không còn sức để hoạt động, không thể xuất khí lực được.

Mấy năm nay nhờ có Vương Duy Nhất hết lòng châm cứu nên Địch Thanh mới tránh khỏi trở thành phế nhân, nhưng cây ngân châm trong đầu hắn thì Vương Duy Nhất cũng bó tay không lấy ra được.

Mặc dù Địch Thanh có thể hoạt động lại được nhưng hơi dùng sức một tí là trong đầu lại đau đớn và nhức nhối vô cùng, bởi vậy hai năm nay hắn tham gia Ma Khám đều thất bại ở giai đoạn kéo cung khai nỏ. Hôm nay nghe thấy người khác bàn tán về mình, mặc dù ngoài mặt bình tĩnh nhưng trong lòng hắn rất căm uất, thực sự không muốn Quách Tuân vì mình mà bị chỉ trích nên dùng hết sức để kéo cung, dù đã kéo gãy trường cung nhưng trong đầu lập tức như bị thiết chùy đánh vào, đau đớn không chịu nổi mà ngất đi.

Ngày đó trước khi Quách Tuân tiến vào thung lũng Phi Long, ý định ban đầu là muốn rèn luyện cho Địch Thanh nhưng không ngờ lại khiến hắn bị trọng thương, thiếu chút nữa thì mất mạng. Trong lòng Quách Tuân hổ thẹn nên đã đem hơn một nửa công lao ở thung lũng Phi Long đẩy qua cho Địch Thanh, lại cố gắng giúp Địch Thanh lên tới chức quan Thập Tương. Nhưng Quách Tuân có thể làm đến Điện tiền Chỉ huy sứ, chịu trách nhiệm hộ vệ hoàng thượng, không chỉ vì võ công cao cường mà còn nhờ vào gia thế tốt. Địch Thanh không có xuất thân, chức Thập Tương này thì đã là năng lực cực hạn Quách Tuân tranh thủ cho hắn rồi.

Tuy chức quan Thập Tương không cao nhưng nhìn chung áo cơm không cần phải lo, mặc dù Quách Tuân vẫn còn áy náy nhưng Địch Thanh không hề có mảy may ý nghĩ trách hận Quách Tuân.

Trong lúc Địch Thanh còn đang đau lòng thì có một thiếu niên hoạt bát chạy đến nói:

– Địch nhị ca, thế nào rồi?

Người này chính là Quách Quỳ, chỉ trong một thời gian ngắn mà cậu cũng đã cao lên nhiều, nhưng vẫn không thoát khỏi tính trẻ con. Cậu gọi Quách Tuân là đại ca, cho nên gọi Địch Thanh là nhị ca. Mấy năm qua, Địch Thanh sống ở kinh thành cùng với huynh đệ họ Quách vô cùng vui vẻ.

Địch Thanh lắc đầu, Quách Quỳ thấy Địch Thanh có vẻ chán nản, vội vàng an ủi:

– Địch nhị ca, đệ biết hết rồi, huynh không cần phải nói nữa.

Thấy có mấy người từ Anh Vũ lâu đi ra, nét mặt vênh váo tự đắc, Quách Quỳ nói tránh đi:

– Địch nhị ca, huynh đừng thấy mấy kẻ này tài trí hơn người, thật ra bọn chúng đều là ỷ vào công trạng của phụ thân cả thôi. Phụ thân của bọn chúng không phải nhậm chức ở trong Tam Ban thì cũng là quan to hai viện. Những người này chỉ như là đống phân, ấy mà lại có thể vào thẳng Anh Vũ lâu. Huynh so với bọn chúng còn giỏi hơn nhiều.

Địch Thanh thầm nghĩ: “Bây giờ mình còn không thể so với đống phân nữa.”

Hắn bèn nói lảng đi:

– Tiểu Quỳ, đệ tìm huynh có chuyện gì?

Hắn ngáp một cái, hứng thú tan hết.

Tròng mắt Quách Quỳ chuyển động, nói:

– Thiếu chút nữa quên nói cho huynh một chuyện, đại ca của đệ lại phải rời kinh rồi.

Địch Thanh lo lắng nói:

– Huynh ấy đi đâu, có nguy hiểm không?

Thì ra Quách Tuân tuy là Điện tiền Chỉ huy sứ nhưng bởi vì võ công cao cường, làm việc linh hoạt nên thường xuyên bị Tam Nha điều đi hỗ trợ phủ Khai Phong và quan phủ địa phương xử lý một số vụ án phức tạp, do đó Quách Tuân hiếm khi ở kinh thành.

Quách Quỳ nói:

– Huynh còn nhớ ba người Quách Mạc Sơn, Trương Hải và Vương Tắc không?

Địch Thanh vô cùng kinh ngạc nói:

– Đương nhiên là nhớ. Ba người này trước đây chính là thuộc hạ của Quách đại ca, sau đó mất tích ở thung lũng Phi Long, Quách đại ca lúc nào cũng nhớ mãi không quên… Ba người bọn họ làm sao vậy?

– Quách Mạc Sơn và Trương Hải tạo phản ở Thiểm Tây.

Quách Quỳ nhíu mày nói:

– Hiện tại thanh thế bọn họ không nhỏ, đã trở thành tai hoạ ngầm của triều đình. Đại ca biết tin bọn người Quách Mạc Sơn tạo phản, lập tức xin lệnh đi trước tới Thiểm Tây dẹp loạn. Đây dù sao cũng là thuộc hạ của huynh ấy, không rõ vì sao những người này không trở về kinh thành mà lại muốn tạo phản nhỉ?

Địch Thanh không muốn suy nghĩ nhiều, cười khổ nói:

– Chỉ hy vọng Quách đại ca mọi chuyện đều thuận lợi. Tiểu Quỳ, huynh đi dạo chút.

Hắn không được như ý, trong lòng chỉ muốn tìm một nơi thanh tịnh để tĩnh tâm. Quách Quỳ kêu lên:

– Được rồi, Địch nhị ca, đại ca của huynh sợ huynh ở kinh thành thiếu tiền tiêu nên nhờ người mang đến đây ba lượng bạc cho huynh. Này, đây này.

Nói xong, cậu chìa tay đưa ra ba lượng bạc, Địch Thanh không nhận, hỏi:

– Có thư không?

Con người Quách Quỳ chuyển động, cười nói:

– Đại ca của huynh không phải không biết chữ sao? Sao mà có thư được chứ?

Địch Thanh nói:

– Tiểu Quỳ, đệ không cần gạt huynh nữa, đây là Quách đại ca cho huynh đúng không?

Thấy Quách Quỳ không nói, Địch Thanh vỗ vỗ bả vai Quách Quỳ, nói:

– Tiểu Quỳ, huynh chỉ giúp Quách đại ca một lần, nhưng huynh ấy thật sự không nợ huynh cái gì hết, hai người đối với huynh quá tốt, huynh không cách nào báo đáp được.

Quách Quỳ cố gắng ưỡn lồng ngực gầy gò nói:

– Chúng ta có phải huynh đệ không? Nếu phải thì không cần nói ra những lời này.

Địch Thanh không nhịn được cười, dí mạnh cái mũi nó nói:

– Nhìn bộ dạng của đệ thật giống như một anh hùng hảo hán vậy. Huynh thật sự không thiếu tiền để dùng, chức quan Thập Tương này của huynh tuy là không làm gì được nhưng bổng lộc của triều đình thì cũng đủ cho huynh không cần lo chuyện ăn uống. Được rồi … Còn phải làm phiền đệ một việc, huynh có tích góp được mấy lượng bạc, đệ quen biết nhiều, xem thử có thể giúp huynh chuyển số tiền này đến Phần Châu, đưa cho đại ca huynh hay không. Huynh ấy đã một thời gian dài không có tin tức của huynh, e rằng huynh ấy lo lắng.

Địch Thanh móc từ trong người ra thỏi bạc, trong lòng ít nhiều cũng có chút chua xót.

Trước đây, sau khi Địch Vân đánh thức được Địch Thanh, thấy đệ đệ yếu ớt nên hết sức lo lắng cho Địch Thanh, nhưng trong lòng lại nhớ thương Tiểu Thanh. Địch Thanh đương nhiên biết tâm sự của đại ca nên thúc giục y trở về. Quách Tuân còn vui vẻ đề nghị Địch Vân đưa Tiểu Thanh lên sống tại kinh thành, nhưng Địch Vân lại từ chối do không quen sinh hoạt ở kinh thành, bảo rằng kinh thành tốt thì tốt thật nhưng y không thích, hơn nữa quê nhà ở Tây Hà, gốc rễ ở Tây Hà, nên không muốn đến kinh thành. Vì thế sau khi Địch Vân thấy đệ đệ đã khỏe hơn thì liền quay về Tây Hà. Quách Tuân có phần khó hiểu nhưng trong lòng Địch Thanh lại biết, đại ca bởi vì chân què, không muốn đệ đệ mình bị mất mặt nên mới khăng khăng muốn quay về. Cũng may sau khi Địch Vân trở về Tây Hà cùng Tiểu Thanh làm buôn bán nhỏ, sống qua ngày cũng không đến nỗi nào.

Quách Quỳ nhìn thỏi bạc kia, thầm nghĩ: “Địch nhị ca này yếu mà không đuối.”

Không muốn để Địch Thanh khó xử, cậu nhận lấy bạc, nói:

– Được, đệ nhất định sẽ chuyển giúp huynh.

Sau khi tạm biệt Quách Quỳ, Địch Thanh cứ thế lững thững bước đi, thấy ven đường có quán rượu bèn đi vào kêu một cân rượu thường mà uống. Trong lòng hắn thầm tính toán, ở lại kinh thành có lẽ không phát triển được gì, còn muốn quay về Tây Hà thì lại càng không được. Mặt mình đã bị xăm chữ, cũng chẳng khác gì phạm nhân, gia nhập cấm quân không dễ, rời khỏi cấm quân lại càng khó khăn hơn. Hắn than nhẹ một tiếng, bỏ lại mười văn tiền rồi đi ra khỏi quán, nhất thời xung quanh mờ mịt, chỉ thấy tơ liễu bay bay, giống như bông tuyết nhẹ nhàng rơi xuống, phố xá náo nhiệt vô cùng, nhưng đều là tiếng ồn ào rầm rĩ của người khác, chẳng hề liên quan đến bản thân hắn.

Chợt nghe ở phía trước có tiếng trầm trồ khen ngợi, lúc này Địch Thanh mới phát hiện ra mình đã đi qua Châu Kiều, đến chỗ Đại Tướng Quốc Tự. Nơi này có câu lan ngõa tứ, ca hát biểu diễn, đúng là cực kỳ náo nhiệt.

(Câu lan: nơi hát múa và diễn kịch thời Tống, Nguyên ở Trung Quốc)

Phố phường người qua kẻ lại, hôm nay quả là tiên hoa tranh diễm, vạn vật rộn ràng giữa tiết xuân, hai bên đường đầy cửa hàng và chợ hoa, muôn hồng nghìn tía, hương hoa len lỏi.

Địch Thanh dừng chân nghỉ ngơi, trong lòng đầy phiền muộn. Đúng lúc này phía trước vọng đến vài tiếng chiêng, có một đội kỵ mã chạy trước mở đường, phía sau là một đoàn văn nhân cưỡi ngựa trâm hoa, người nào cũng hớn hở, vó ngựa gõ nhẹ..

Có một người dân tấm tắc nói:

– Mau nhìn, mau nhìn kìa, thiên tử môn sinh đang dạo phố kìa.

❮ sau

Avatar

Các bạn đăng ký thành viên hội nhé…!
→Free vip→Đọc và nghe audio truyện/ 0 quảng cáo→Yêu cầu truyện / Ưu Tiên♥Ngoài ra AudioSite là Website do hội Mê Đọc Truyện thành lập – chính vì vậy Đọc Truyện trên website giảm 90% xuất hiện quảng cáo nhé !